- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H và ĐP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Đỗ Thành V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2023/HS-ST Ngày 26-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Nguyệt Thu;
2. Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Điểu Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 03 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 140/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 308/2023/HSST-QĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 đối với:
- Các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh năm: 2000 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã Th, huyện L, tỉnh Đồng Nai (trước khi bị bắt bị cáo sống lang thang); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Yến Nh; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt giữ hình sự ngày 26/5/2022, sau đó chuyển lệnh tạm giam theo lệnh tạm giam số 608 ngày 03/6/2022, của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố Biên Hòa; có mặt tại phiên tòa.
2. Đỗ Thành V, sinh năm: 2003 tại Quảng Ngãi; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn An Đ, xã Nh, thị xã Ph, tỉnh Quảng Ngãi (trước khi bị bắt bị cáo sống lang thang); nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thành D và bà Ngô Thị Tuyết S; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt giữ ngày 26/5/2022, sau đó chuyển lệnh tạm giam theo lệnh tạm giam số 608 ngày 03/6/2022, của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố Biên Hòa; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1954; cư trú tại: Phường D, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
2. Bà Nguyễn Thị Phương Th, sinh năm 1984; cư trú tại: phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
3. Ông Trần V, sinh năm 1969; HKTT: Xã T, huyện H tỉnh Hà Tĩnh; cư trú tại: phường Nh, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Khắc C, sinh năm 1986; cư trú tại: Số 27 Phan Chu Trinh, khu phố 1, phường Hòa bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Trần Tuấn A, sinh năm 1983; cư trú tại: Phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Dương Văn Tr, sinh ngày 19/09/2010; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Nguyễn Văn H và Đỗ Thành V là các đối tượng sống lang thang, không có nghề nghiệp, để có tiền tiêu xài Hiếu, Vận cùng một số đối tượng sống lang thang khác đã thực hiện một số vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Biên Hoà, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ (không rõ ngày) của tháng 5/2022, H cùng với Dương Văn Tr, sinh ngày 19/9/2010, hộ khẩu thường trú: xã Tr, thành phố Kh, tỉnh Đồng Nai đến trước nhà khu phố 1, phường Th, thành phố BH phát hiện 01 (một) xe mô tô biển số 60Y1 – 5302, màu đỏ - đen, nhãn hiệu NAKADO của ông Nguyễn Thanh H, (sinh năm 1954, hộ khẩu thường trú phường Trung D, thành phố H, tỉnh Đồng Nai) không có người trông coi (lúc này ông H đang nằm ngủ bên cạnh xe) nên H và Tr đã đi đến lấy trộm xe rồi mang xe đến tiệm mua bán xe cũ, địa chỉ phườngB, thành phố H, tỉnh Đồng Nai bán xe cho anh Trần Tuấn A, sinh năm 1983 là chủ tiệm được số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), số tiền trên cả hai chia nhau tiêu xài hết.
Vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô, biển số 60Y1 – 5302, màu đỏ - đen, nhãn hiệu NAKADO là tài sản của ông Nguyễn Thanh H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà chưa thu hồi được, do sau khi lấy trộm, H khai mang bán xe cho anh Trần Tuấn A, tuy nhiên Trần Tuấn A không thừa nhận đã mua xe trên của H, kết quả khám xét tại nhà của Trần Tuấn A không thu giữ được xe mô tô trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 200/KL – HĐĐGTS ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã kết luận: “01 (một) xe mô tô biển số 60Y1 – 5302, màu đỏ - đen, nhãn hiệu NAKADO có giá trị định giá là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Về dân sự: Bị hại anh Nguyễn Thanh H yêu cầu bồi thường số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Hiện bị cáo H chưa bồi thường.
Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 15/05/2022, chị Nguyễn Thị Phương Th, sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú phường T, thành phố H đến nhà em trai tại địa chỉ phường Nh, thành phố H để giúp em trai dọn, dẹp nhà (nhà đang xây dựng sau chung cư T). Trong lúc dọn nhà, chị Th có để 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 trên yên xe mô tô trong phòng khách, cửa chính nhà không đóng. Lúc này, Nguyễn Vũ D, sinh ngày 19/10/2005, đăng kí hộ khẩu thường trú Thị trấn L, huyện M, tỉnh Đồng Nai đi ngang qua phát hiện chiếc điện thoại nên đã lén lút đột nhập vào bên trong nhà lấy trộm điện thoại, rồi đi đến tiệm “Internet 26”, địa chỉ phường Ph, thành phố H, Đồng Nai đưa cho Đỗ Thành V. D nói cho V đó là điện thoại do D trộm cắp có được và nhờ V đi bán giúp, thì V đồng ý. Sau đó, V mang điện thoại đến tiệm điện thoại “Việt A” địa chỉ phường V, thành phố H do anh Nguyễn Khắc C làm chủ bán được số tiền 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) nhưng V nói với D chiếc điện thoại trên bán được 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) D đưa lại cho V số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Số tiền trên, D và V tiêu xài hết.
Vật chứng vụ án: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32. Đây là tài sản của chị Nguyễn Thị Phương Th, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà đã thu hồi, trả lại cho chị Th.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 199/KL – HĐĐGTS ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã kết luận: “01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 có giá trị định giá là 5.346.500 đồng (Năm triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm đồng).
Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Phương Th đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Anh Nguyễn Khắc C yêu cầu bị cáo Đỗ Thành V bồi thường số tiền 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng). Hiện bị cáo V chưa bồi thường.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 12 giờ ngày 21/5/2022, Nguyễn Vũ D, sinh ngày 19/10/2005, Dương Văn Tr và Nguyễn Văn H đang ngồi chơi ở khu vực sau chung cư T, phường Nh, thành phố BH thì phát hiện khu vực trước nhà đang xây dựng thuộc khu phố 7, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa có 01 (một) xe mô tô biển số 74K7-0788, nhãn hiệu NEWWAVE của anh Trần V (sinh năm 1969, ngụ Xã T, huyện H tỉnh Hà Tĩnh), không có người trông coi, (anh V đang phụ hồ cho công trình xây dựng bên trong) nên Tr rủ Hiếu và D lấy trộm xe mô tô, thì cả hai đồng ý. Lúc này, Tr đi lại trộm cắp xe mô tô của anh V, còn H và D ngồi phía ngoài cảnh giới. Sau khi trộm cắp được xe mô tô, tất cả tẩu thoát về Công viên Tam Hiệp. Tại đây, H đã đưa chiếc điện thoại di động của H cho Tr để đổi lấy chiếc xe biển số 74K7-0788 vừa mới trộm cắp được, thì Tr đồng ý. Sau đó, H mang xe trên đến tiệm mua bán xe cũ địa chỉ phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Nai bán xe cho anh Trần Tuấn A, sinh năm 1983 là chủ tiệm được số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền trên H tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 23/5/2022, công an phường Thống Nhất tuần tra tại khu vực bệnh viện ITO thuộc phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện nhóm của Nguyễn Văn H gồm Hiếu, Vận, Dương Văn Tr, Nguyễn Vũ D và Nguyễn Minh T có biểu hiện nghi vấn nên đưa về trụ sở để làm việc. Tại đây, các đối tượng đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên nên công an phường Thống Nhất lập hồ sơ, chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà xử lý theo quy định pháp luật.
Vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô biển số 74K7-0788 màu đỏ, nhãn hiệu NEWWAVE, là tài sản của anh Trần V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa chưa thu hồi được, do sau khi lấy trộm, H khai mang bán xe cho anh Trần Tuấn A. Tuy nhiên khi tiến hành khám xét tại nhà của Trần Tuấn A, Cơ quan điều tra chỉ thu hồi được biển số xe 74K7-0788. Quá trình điều tra, Trần Tuấn A khai sau khi mua xe trên của H, Tuấn A đã bán lại cho một người đàn ông ̣(không̣ rõ họ tên, địa chỉ), trong quá trình di chuyển có thể biển số xe đã bị rớt lại tại nhà Tuấn A. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu hồi, trả lại biển số xe cho bị hại là anh Trần V.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 201/KL – HĐĐGTS ngày 31/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa đã kết luận: “01 (một) xe mô tô biển số 74K7 - 0788, màu đỏ, nhãn hiệu NEWWAVE có giá trị định giá là 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Về dân sự: Bị hại anh Trần V yêu cầu bồi thường số tiền 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng). Hiện bị cáo chưa bồi thường.
Đối với anh Trần Tuấn A và anh Nguyễn Văn C khi mua xe, điện thoại của H, V bán, anh Tuấn A và anh C không biết đây là tài sản do H và V phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Tuấn A và anh C
Đối với Dương Văn Tr, sinh ngày 19/9/2010, Nguyễn Minh T, sinh ngày 15/8/2007, tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Tr và T chưa đủ 16 tuổi, hành vi thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, do đó chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà không xử lý hình sự đối với Trư và T.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, các bị cáo còn khai báo:
Đối với các xe mô tô biển số 60F2 – 064.61; 71B2 – 151.76; 54X7 – 8712 là các xe mô tô Hi và đồng bọn khai trộm cắp được tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà đã uỷ thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành để truy tìm bị hại nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà tiếp tục tạm giữ xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với xe mô tô màu xanh (không rõ biển số, số khung RRKWCHYUM5X009217, số máy VTTJL1B52FMH009217): Dương Văn Tr khai cùng với Đỗ Thành V, Nguyễn Vũ D trộm cắp tại công viên khu công nghiệp AMATA. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Biên Hoà đã tiến hành truy tìm bị hại nhưng đến nay chưa tìm được, do đó chưa có đủ căn cứ để xử lý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà tiếp tục tạm giữ, xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với xe mô tô biển số 620F2 – 715.38, Dương Văn Tr khai trộm cắp được tại tiệm áo cưới Lê H, khu phố 2, phường Ph, thành phố BH sau đó Tr đổi biển số thành 65H4 – 6511 rồi bán lại cho Đỗ Thành V sử dụng để đi lại, hiện xe đã được cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Biên Hoà thu hồi, xác định được bị hại là anh Dương Hồng V, sinh năm 1981, hiện đang tạm trú tại số phường T thành phố H, tỉnh Đồng Nai; xe mô tô biển số 60Z3 – 4629, Nguyễn Trung H và Dương Văn Tr khai trộm cắp tại hẻm số 95, khu phố 2, phường Trung Trung Dũng, thành phố Biên Hoà, tài sản chưa thu hồi, đã xác định được bị hại là anh Lê Nguyễn Duy Th, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú phường D, thành phố BH; xe mô tô biển số 60F1 – 058.73, Đỗ Thành V khai cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Dương Văn Tr và Nguyễn Minh T tại khuôn viên Quảng trường tỉnh Đồng Nai, tài sản chưa thu hồi được, đã xác định được bị hại là anh Mai Ngọc Th, sinh năm 1963, hộ khẩu thường trú số phường Hiệp Ph, thành phố Đ, thành phố Hồ Chí Minh. Do thời hạn điều tra vụ án đã hết, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Biên Hòa chưa điều tra, xác minh làm rõ được các tình tiết liên quan để giải quyết vụ việc nêu trên nên tách ra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Vũ D, sinh ngày 19/10/2005 là đồng phạm, thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản cùng với Nguyễn Văn H và Đỗ Thành V. Tại thời điểm D bị phát hiện hành vi phạm tội, do chưa xác định được độ tuổi của D Đến nay thời hạn điều tra đã vụ án đã hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa chưa điều tra, xác minh làm rõ được nên tách hành vi của Nguyễn Vũ D để điều tra làm rõ và xử lý sau.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 125/CT-VKSBH ngày 28/02/2023 và Quyết định sửa đổi bổ sung cáo trạng số 7314/QĐ-VKSBH ngày 25/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố:
- Nguyễn Văn H, về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo Khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Đỗ Thành V, về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173 và điểm s khoản 1 Điều 51; của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 14 tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Đỗ Thành V từ 12 tháng đến 14 tháng tù.
Về phần dân sự: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường cho các bị hại Nguyễn Thanh H, Trần V, bị cáo Đỗ Thành V bồi thường cho anh Nguyễn Khắc Cường theo quy định của pháp luật.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo H, bị cáo V thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị hại chị Nguyễn Thị Phương Th có đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại ông Nguyễn Thanh H và anh Trần V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, lời khai của họ đã đầy đủ và có trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử; nên Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi bị truy tố và tội danh:
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2022 (không xác định được ngày cụ thể) đến ngày 21/5/2022, Nguyễn Văn H, Đỗ Thành V đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ (không rõ ngày) của tháng 5/2022, tại trước nhà khu phố 1, phường Th, thành phố BH, Nguyễn Văn H cùng với Dương Văn Tr, sinh ngày 19/9/2010 trộm cắp 01 (một) xe mô tô biển số 60Y1 – 5302, màu đỏ - đen, nhãn hiệu NAKADO trị giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của ông Nguyễn Thanh H.
Vụ thứ 2: Khoảng 19 giờ ngày 15/05/2022, tại địa chỉ nhà phường Nh, thành phố H, Nguyễn Vũ D đã có hành vi trộm cắp 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A32 trị giá 5.346.000 đồng (Năm triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Phương Th. Sau đó, D mang điện thoại trên đưa cho Đỗ Thành V mang đi bán để lấy tiền tiêu xài. V biết rõ chiếc điện thoại Sam sung Galaxy A32 là tài sản do D trộm cắp mà có nhưng vẫn mang đi bán được số tiền 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) và chia nhau tiêu xài số tiền trên nên V bị khởi tố, điều tra và bị xử lý theo quy định pháp luật.
Vụ thứ 3: Đến ngày, 21/5/2022, tại khu vực chung cư Topaz Twin, thuộc khu phố 7, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, Nguyễn Văn H đã cùng với Dương Văn Tr và Nguyễn Vũ D, sinh ngày 19/10/2005 trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Newwave, màu đỏ - đen, biển số 74K7 – 0788 trị giá 2.800.000 đồng (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) của anh Trần V nên Hiếu bị khởi tố, điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Nguyễn Văn H thực hiện 02(hai) vụ trọm cắp tài sản, là người trực tiếp lấy trộm tài sản của ông Nguyễn Thanh H và có vai trò đồng phạm giúp sức, cảnh giới để Dương Văn Tr lấy trộm tài sản của anh Trần V. Tổng số tiền Nguyễn Văn H đã chiếm đoạt trong 02 (hai) vụ trộm cắp tài sản nêu trên là 4.300.000 đồng (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng).
Đỗ Thành V thực hiện một vụ tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tài sản bị chiếm đoạt trị giá 5.346.000đ (năm triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Phương Th.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định các bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và Đỗ Thành V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 125/CT-VKSBH ngày 28/02/2023 và Quyết định sửa đổi bổ sung cáo trạng số 7314/QĐ-VKSBH ngày 25/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và Đỗ Thành V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Bị cáo Nguyễn Văn H bất chấp quy định của pháp luật lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo Đỗ Thành V mặc dù biết rõ tài sản có được do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn có hành vi tiêu thụ tài sản này.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); ngoài ra, bị cáo Đỗ Thành V phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo H và bị cáo V để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy thời hạn tù của các bị cáo bằng thời hạn tạm giam nên cần trả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa.
Về vật chứng:
- 01 (một) xe mô tô, biển số 60Y1 – 5302, màu đỏ - đen, nhãn hiệu NAKADO là tài sản của ông Nguyễn Thanh H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà chưa thu hồi được nên kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Biên Hòa tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32. Đây là tài sản của chị Nguyễn Thị Phương Th, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà đã thu hồi, trả lại cho chị Th là phù hợp với quy định của pháp luật.
- 01 (một) xe mô tô biển số 74K7-0788 màu đỏ, nhãn hiệu NEWWAVE, là tài sản của anh Trần V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa chưa thu hồi được nên kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Biên Hòa tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau.
Đối với biển số xe 74K7-0788, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu hồi, trả lại biển số xe cho bị hại là anh Trần V là phù hợp với quy định của pháp luật.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự và các vấn đề khác:
Bị hại ông Nguyễn Thanh H yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền nêu trên cho ông H nên có cơ sở chấp nhận.
Bị hại chị Nguyễn Thị Phương Th đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
Anh Nguyễn Khắc C yêu cầu bị cáo Đỗ Thành V bồi thường số tiền 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa bị cáo V đồng ý bồi thường số tiền nêu trên cho anh C nên có cơ sở chấp nhận.
Bị hại anh Trần V yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền nêu trên cho anh V nên có cơ sở chấp nhận.
Đối với anh Trần Tuấn A và anh Nguyễn Văn C khi mua xe, điện thoại của H, V bán, anh Tuấn A và anh C không biết đây là tài sản do H và V phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Tuấn A và anh C là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với Dương Văn Tr, sinh ngày 19/9/2010, Nguyễn Minh T, sinh ngày 15/8/2007, tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Tr và T chưa đủ 16 tuổi, hành vi thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, do đó chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà không xử lý hình sự đối với Trường và Tuấn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với các xe mô tô biển số 60F2 – 064.61; 71B2 – 151.76; 54X7 – 8712 là các xe mô tô H và đồng bọn khai trộm cắp được tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà đã uỷ thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành để truy tìm bị hại nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà tiếp tục tạm giữ xác minh làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô màu xanh (không rõ biển số, số khung RRKWCHYUM5X009217, số máy VTTJL1B52FMH009217): Dương Văn Tr khai cùng với Đỗ Thành V, Nguyễn Vũ D trộm cắp tại công viên khu công nghiệp AMATA. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Biên Hoà đã tiến hành truy tìm bị hại nhưng đến nay chưa tìm được, do đó chưa có đủ căn cứ để xử lý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà tiếp tục tạm giữ, xác minh làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với xe mô tô biển số 620F2 – 715.38, Dương Văn Tr khai trộm cắp được tại tiệm áo cưới Lê H, khu phố 2, phường Ph, thành phố BH sau đó Trường đổi biển số thành 65H4 – 6511 rồi bán lại cho Đỗ Thành V sử dụng để đi lại, hiện xe đã được cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Biên Hoà thu hồi, xác định được bị hại là anh Dương Hồng V, sinh năm 1981, hiện đang tạm trú tại số phường T thành phố H, tỉnh Đồng Nai; xe mô tô biển số 60Z3 – 4629, Nguyễn Văn Hiếu và Dương Văn Tr khai trộm cắp tại hẻm số 95, khu phố 2, phường Trung Trung Dũng, thành phố Biên Hoà, tài sản chưa thu hồi, đã xác định được bị hại là anh Lê Nguyễn Duy Th, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú phường D, thành phố BH; xe mô tô biển số 60F1 – 058.73, Đỗ Thành V khai cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Dương Văn Tr và Nguyễn Minh T tại khuôn viên Quảng trường tỉnh Đồng Nai, tài sản chưa thu hồi được, đã xác định được bị hại là anh Mai Ngọc Th, sinh năm 1963, hộ khẩu thường trú số phường Hiệp Ph, thành phố Đ, thành phố Hồ Chí Minh. Do thời hạn điều tra vụ án đã hết, mà Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Biên Hòa chưa điều tra, xác minh làm rõ được các tình tiết liên quan để giải quyết vụ việc nêu trên nên tách ra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Vũ D, sinh ngày 19/10/2005 là đồng phạm, thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản cùng với Nguyễn Văn H và Đỗ Thành V. Tại thời điểm D bị phát hiện hành vi phạm tội, do chưa xác định được độ tuổi của D. Đến nay thời hạn điều tra đã vụ án đã hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa chưa điều tra, xác minh làm rõ được nên tách hành vi của Nguyễn Vũ D để điều tra làm rõ và xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Phần trình bày của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Đỗ Thành V phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
1. Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2022.
Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Văn H, nếu không bị tam giam về một tội phạm khác.
Căn cứ khoản 1, Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Đỗ Thành V 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2022.
Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Đỗ Thành V nếu không bị tam giam về một tội phạm khác.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 586, 589 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H chịu trách nhiệm bồi thường số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho bị hại ông Nguyễn Thanh H và bồi thường số tiền 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng) cho bị hại anh Trần V.
Buộc bị cáo Đỗ Thành V chịu trách nhiệm bồi thường số tiền 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) cho anh Nguyễn Khắc C.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền được nêu tại phần quyết định của bản án này, nếu người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được tính theo quy định tại Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Đỗ Thành V mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Đỗ Thành V mỗi bị cáo phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan Thi hành án hình sự – Công an thành phố Biên Hòa; - Nhà tạm giữ – Công an thành phố Biên Hòa; - Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng và Thẩm phán. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Nguyệt |