vanban.org

Bản án 178/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 10/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy đối với: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tăng Phách, Trần Minh Tâm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC L
TỈNH BẠC L
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2023/HS-ST
Ngày 18-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC L, TỈNH BẠC L

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.

- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Trường Hận.

- Ông Lê Tuấn Kiệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023 tại hai điểm cầu gồm điểm cầu Trung T: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc L và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an thành phố Bạc L. Tòa án nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161A/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/. Họ và tên: Tăng P (tên gọi khác: không), sinh ngày 14/6/1993 tại Bạc L; Nơi cư trú: ấp Cái Giá, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc L; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Đẹt, sinh năm 1967 (đã chết) và bà Thạch Thị Phương, sinh năm 1967; Anh, chị, em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30/7/2023 đến ngày 02/8/2023 bị khởi tố bị can và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bạc L đến nay. “có mặt”.

2/. Họ và tên: Trần Minh T (tên gọi khác: không), sinh ngày 20/10/1992 tại Bạc L; Nơi cư trú: ấp Cái Giá, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc L; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thành Sơn, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Thạch Thị Siên, sinh năm 1967 (đã chết); Có vợ tên Thạch Thị Ngọc Ánh, sinh năm 1997; Có 03 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2021; Anh, chị, em ruột có 05 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30/7/2023 đến ngày 02/8/2023 bị khởi tố bị can và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bạc L đến nay. “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T là bạn bè và đều nghiện ma túy. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/7/2023, bị cáo P rủ bị cáo T mỗi người hùn 100.000 đồng để mua ma túy về sử dụng thì bị cáo T đồng ý và đưa cho bị cáo P 100.000 đồng. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 54Z3 – 0349 chở bị cáo P đi mua ma túy. Bị cáo T chở P đi đến hẻm không số, thuộc Khóm 6, Phường 7, thành phố Bạc L. Khi chạy xe vào hẻm một đoạn khoảng 100m, thì gặp một người thanh niên hỏi mua bao nhiêu tiền ma túy, bị cáo P trả lời lấy 200.000 đồng. Sau đó người thanh niên bỏ đi một lúc rồi quay lại đưa cho bị cáo P một bịch ma túy, bị cáo P đưa 200.000 đồng. Trên đường về, đến đường vòng xoay cầu Tôn Đức Thắng thuộc Khóm 10, Phường 1, thành phố Bạc L thì lực lượng Công an thành phố Bạc L kiểm tra, phát hiện trên tay trái của bị cáo P đang cầm 01 (một) bịch nylon màu trắng được hàn kín có nẹp miệng, gần nẹp miệng có đường viền màu đỏ, kích thước 2,2cm x 1,5cm, bên trong bịch nylon có chứa các hạt tinh thể màu trắng, nghi là chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ các tang vật có liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số 96/KL-KTHS, ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc L, kết luận: “Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể chứa trong 01 (một) gói nylon (kí hiệu M) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng 0,13989 gam”.

Tại Kết quả xét nghiệm ma túy ngày 31/7/2023 của Trung T y tế thành phố Bạc L xác định: Tăng P dương tính với chất Methamphetamine – MET và Amphetamine - AMP; Trần Minh T dương tính với chất Methamphetamine – MET và Amphetamine

- AMP;

Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T cùng khai nhận như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/7/2023 do muốn sử dụng ma túy nên các bị cáo P và T điều khiển xe đi đến hẻm không số thuộc Khóm 6, Phường 7, thành phố Bạc L gặp người thanh niên mua 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó điều khiển xe về đến đoạn đường vòng xoay cầu Tôn Đức Thắng thuộc Khóm 10, Phường 1, thành phố Bạc L thì bị lực lượng Công an thành phố Bạc L kiểm tra, bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số 158/CT-VKS-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L truy tố bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tăng P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

+ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

+ Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy đối với số ma túy còn lại sau giám định là Methamphetamine có khối lượng là 0,09417 gam và toàn bộ các vỏ phong bì, bao gói.

+ Về án phí: bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T tại phiên tòa hoàn toàn thống nhất và phù hợp với lời khai của chính các bị cáo trong giai đoạn điều tra, đồng thời phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 30/7/2023 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Vào lúc 20 giờ 00 phút, ngày 30/7/2023, tại vòng xoay cầu Tôn Đức Thắng, thuộc Khóm 10, Phường 1, thành phố Bạc L, bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,13989 gam ma túy, loại Methamphetamine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện với khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ để sử dụng là 0,13989 gam.

Hành vi nêu trên của bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc L truy tố bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, hành vi phạm tội: Tại Kết quả xét nghiệm ma túy ngày 31/7/2023 của Trung T y tế thành phố Bạc L xác định: Tăng P và Trần Minh T đều dương tính với chất Methamphetamine – MET và Amphetamine - AMP. Các bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi và đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, tại phiên tòa bị cáo P và bị cáo T cũng biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự do người sử dụng ma túy gây nên, Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự trị an tại địa phương mà ma túy còn là chất gây nghiện có tác động xấu đến người sử dụng ma túy, còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác gây bất ổn trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương do đó, cần có mức án tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo là đồng phạm trong vụ án, nhưng mang tính chất giản đơn, không có bàn bạc, phân công vai trò cụ thể.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô màu đỏ, biển kiểm soát 54Z3 – 0349, nhãn hiệu ATTILA là của bà Thạch Thị Ngọc Ánh, sinh năm 1997, nơi cư trú: ấp Cái Giá, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc L. Xét thấy không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho bà Ánh là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

- Đối với số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng là 0,09417 gam cùng toàn bộ các vỏ phong bì, bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T tại hẻm không số thuộc Khóm 6, Phường 7, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bạc L chưa xác định được rõ nhân thân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bạc L cần tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T, Trưởng Công an thành phố Bạc L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Bạc Liêu là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tăng P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2023.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy đối với:

- 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có chứ ký dấu tên Nguyễn Quốc K và 04 (bốn) dấu mộc tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc L cùng dòng chữ “96/GĐMT-2023”. Gói niêm phong còn nguyên vẹn (khối lượng ma tuý loại Mathamphetamine còn lại sau giám định là 0,09417 gam) và toàn bộ các vỏ phòng bì, bao gói.

Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc L, tỉnh Bạc L theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2023.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Tăng P và bị cáo Trần Minh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ