vanban.org

Bản án 178/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 30/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Th bị xét xử về tội "Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2023/HS-ST
Ngày: 30/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V

TỈNH

Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Nga

Bà Trần Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án

nhân dân huyện V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Đtham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 176/2023/HSST ngày 10/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2023/QĐXXST-HS ngày 13/10/2023 đối với bị cáo:

Trần Văn Th; sinh năm 1982 tại Nghệ An; Nơi thường trú: Khu phố 4C, phường Trảng Dài, Th phố Biên Hòa, tỉnh Đ; Nơi ở hiện nay: Khu phố 6, thị trần Vĩnh An, huyện V, tỉnh Đ; Nghề ngH: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Th (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1951; Có vợ là Võ Thị T, sinh năm 1982 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2003 và nhỏ nhất sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang vào ngày 14/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện V.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thùy Thảo V, sinh năm 2002

Trú tại: Tổ 8, khu phố 2, thị trấn Vĩnh An, huyện V, tỉnh Đ.

* Người làm chứng:

1. Anh Đinh Hoàng Th, sinh năm 1998.

Địa chỉ: ấp Trung Tâm, xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đ.

2. Chị Trần Thị Ngọc Ng, sinh ngày 26/10/1982.

Địa chỉ: Tổ 8, Khu phố 2, thị trấn Vĩnh An, huyện V, tỉnh Đ.

3. Chị Nguyễn Thị Diễm Tr, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ 8, Khu phố 2, thị trấn Vĩnh An, huyện V, tỉnh Đ.

(Bị cáo có mặt; Bị hại có đơn xin vắng mặt; Người làm chứng vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 14/6/2023, Trần Văn Th điều khiển xe mô tô Honda Ariblade biển số 38D1-266.04 đến tổ 8, khu phố 2, thị trấn Vĩnh An giao gà làm sẵn cho người phụ nữ tên My (không rõ họ, địa chỉ) đặt qua điện thoại. Do không biết nhà My nên Th đứng trước cổng nhà chị Nguyễn Thuỳ Thảo V – sinh năm 2002 ngụ tại tổ 8, khu phố 2, thị trấn Vĩnh An hỏi thăm và nhờ chị V tìm nhà My giúp. Đến khoảng 17 giờ 30 phút, Th cùng chị V và chị Trần Thị Ngọc Ng – sinh năm 1982 đến trước cổng nhà chị Nguyễn Thị Diễm Tr – sinh năm 1985 (tên thường gọi là My) ngụ đường Trung Tâm thuộc tổ 8, khu phố 2, thị trấn Vĩnh An hỏi thăm nhưng không phải chị Tr là người đặt gà của Th. Lúc này chị V, Ng, Tr đứng nói chuyện với nhau thì Th nhờ chị V gọi giúp vào số điện thoại 0347.842.560 của người đặt gà trước đó nhưng không có ai trả lời. Một lúc sau người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0347.842.560 gọi vào điện thoại di động Iphone 14 Plus số thuê bao 0389.627.301 của chị V. Th hỏi chị V cho mượn điện thoại để nói chuyện với người phụ nữ về việc đặt gà thì chị V đồng ý. Khi Th đang ngồi trên xe mô tô dừng dưới lòng đường, cầm điện thoại di động của chị V bằng tay trái nói chuyện với người phụ nữ. Thấy chị V không chú ý nên Th nhét điện thoại di động của chị V vào túi quần bên trái rồi nhanh chóng nổ máy xe mô tô biển số 38D1-266.04 bỏ chạy. Chị V, Ng, Tr hô “cướp, cướp” thì anh Đinh Hoàng Th – sinh năm 1998 ngụ ấp Trung Tâm, xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đở gần đó thấy Th bỏ chạy đã dùng xe mô tô đuổi theo. Đến đoạn đường đất thuộc khu phố 1, thị trấn Vĩnh An, huyện V, Th vứt điện thoại di động chiếm đoạt của chị V vào lề đường thì anh Th đuổi kịp nhặt lại điện thoại di động của chị V và phối hợp cùng quần chúng nhân dân bắt giữ Th. Công an thị trấn Vĩnh An tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vgiải quyết theo thẩm quyền.

+ Tang vật, tài sản thu giữ:

- Thu giữ của Trần Văn Th: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh số sim 0395.505.773; 01 xe mô tô Honda Ariblade biển số 38D1-26604; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A6+ màu vàng cát số sim 0946.479.896; 01 áo thun mày xanh, 01 quần thể dục dài màu đen bị rách 02 ống quần (đã niêm phong);

- Thu giữ tại hiện trường: 02 con gà đã chết đã được làm sạch lông.

- Chị Nguyễn Thùy Thảo V giao nộp: 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu xanh số sim 0389.627.301.

+ Nguồn gốc xe mô tô Honda Ariblade biển số 38D1-26604 và các tài sản thu giữ: Xe mô tô Honda Ariblade biển số 38D1-26604

+ Tại Kết luận định giá tài sản số 51/KL-ĐGTS ngày 19/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vkết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Plus trị giá 14.000.000 đồng; 01 sim điện thoại Viettel trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 14.100.000 đồng.

+ Xử lý vật chứng:

- Công an thị trấn Vĩnh An, huyện Vđã giao trả bà Võ Thị Tuất là vợ Trần Văn Th 02 con gà đã chết đã làm sạch lông.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vđã giao trả cho chị Nguyễn Thùy Thảo V 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu xanh số sim 0389.627.301; giao trả cho Trần Văn Th 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh số sim 0395.505.773.

- Đối với xe mô tô Honda Ariblade biển số 38D1-266.04 đứng tên anh Nguyễn Đức Quý – sinh năm 1999 ngụ tại thôn Tân An, xã Tùng Châu, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng tháng 11/2022, anh Quý đã cầm cố cho người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại tỉnh Đ. Trần Văn Th khai nhận mua lại nhưng không nhớ người bán và chưa làm thủ tục sang tên. Hiện nay xe mô tô không có giấy chứng nhận đăng ký, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện Vgiải quyết theo thẩm quyền.

+ Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thùy Thảo V đã nhận lại tài sản không yêu cầu Trần Văn Th bồi thường.

Ngoài ra, quá trình điều tra chứng minh được vào ngày 14/6/2023, ngoài cướp giật tài sản của chị Nguyễn Thùy Thảo V thì Trần Văn Th còn trộm cắp 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A6+ màu vàng cát số sim 0946.479.896 của anh Đỗ Ngọc H – sinh năm 1973 ngụ tại tổ 9, khu phố 5, thị trấn Vĩnh An, huyện V, tỉnh Đđã bị thu giữ. Tuy nhiên tài sản thiệt hại qua định giá có trị giá 900.000 đồng chưa đủ căn cứ xử lý Trần Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vđã giao trả lại tài sản cho anh Đỗ Ngọc H gồm 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A6 + màu vàng cát số sim 0946.479.896 đồng thời Công an huyện VQuyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn Th về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Tại bản cáo trạng số 181/CT/VKSVC ngày 09/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vđã truy tố bị cáo Trần Văn Th về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại khoản 1, Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vgiữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Trần Văn Th mức án từ: 16 tháng tù giam đến 18 tháng tù giam. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo bị bắt giam giữ.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vcăn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Giao trả Trần Văn Th 01 áo thun màu xanh, 01 quần thể dục dài màu đen bị rách 02 ống quần (đã niêm phong);

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi pham tội và thống nhất với nội dung truy tố của bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là hành vi trái với quy định của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người làm chứng;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

. Về tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Người bị hại là chị Nguyễn Thùy Thảo V có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, Toà án căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt chị V.

- Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, tuy nhiên lời khai của họ đã có đầy đủ tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Tòa án căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt họ.

. Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

Xét thấy, do muốn có tiền trả nợ và tiêu xài cho các mục đích cá nhân, nên vào khoảng 17h30’ giờ ngày 14/6/2023, bị cáo Th khi đang đi giao hàng (gà) cho người phụ nữ tên My (là người đã đặt gà) qua điện thoại. Do không tìm được địa chỉ, Th gặp được chị Nguyễn Thùy Thảo V ở gần khu vực mà người mua hàng cung cấp. Lợi dụng lúc chị V đang nói chuyện với người khác, Th bỏ điện thoại của chị V đưa cho Th để nói chuyện với người mua hàng vào túi quần của mình và rồ ga xe mô tô bỏ chạy thì bị người dân bắt giữ giao Công an xử lý. Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thì tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Plus trị giá 14.000.000 đồng; 01 sim điện thoại Viettel trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 14.100.000 đồng.

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Th đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như nội dung Bản cáo trạng số 181/CT/VKSVC ngày 09/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vđã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo Th là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là thanh niên đã trưởng Th, có sức khỏe, có khả năng lao động; bản thân cũng đã có một công việc để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình nhưng bị cáo lại muốn có tiền chi trả sinh hoạt cá nhân bằng việc đi cướp giật tài sản thuộc sỡ hữu của người khác. Bản thân, bị cáo nhận thức được đó là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, sẽ bị nghiêm trị nhưng vẫn bất chấp thực hiện, điều đó thể hiện Th độ coi thường pháp luật nơi bị cáo. Ngoài ra, trước đó bị cáo còn có hành vi trộm cắp cắp 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A6 của anh Đỗ Ngọc H – sinh năm 1973 ngụ tại tổ 9, khu phố 5, thị trấn Vĩnh An, huyện V, tỉnh Đ. Tuy nhiên tài sản thiệt hại qua định giá chỉ có trị giá 900.000 đồng chưa đủ căn cứ xử lý bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, vì vậy Công an huyện Vđã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn Th về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Từ đó, xét thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Tuy nhiên, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo Th khẩn khai báo, tỏ Th độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; gia đình thuộc Th phần có công với cách mạng khi có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Quy là thương binh hạnh 1/4. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thùy Thảo V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với phần hình phạt đối với bị cáo chị V yêu cầu xem xét theo quy định của pháp luật.

. Về vật chứng vụ án:

- Những vật chứng không liên quan đến vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Vxử lý phù hợp trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Đối với các vật chứng là 01 áo thun màu xanh, 01 quần thể dục dài màu đen bị rách 02 ống quần là tài sản của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo Th.

- Đối với xe mô tô Honda Ariblade biển số 38D1-266.04 đứng tên anh Nguyễn Đức Quý – sinh năm 1999 ngụ tại thôn Tân An, xã Tùng Châu, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng tháng 11/2022, anh Quý đã cầm cố cho người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại tỉnh Đ. Trần Văn Th khai nhận mua lại nhưng không nhớ người bán và chưa làm thủ tục sang tên. Hiện nay xe mô tô không có giấy chứng nhận đăng ký, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện Vgiải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Trần Văn Th phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

- Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn Th: 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thùy Thảo V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết

- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trần Văn Th 01 áo thun màu xanh, 01 quần thể dục dài màu đen bị rách 02 ống quần (được ghi nhận tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V).

- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn Th phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ