vanban.org

Bản án 178/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Hồng L đối với bị đơn ông Lý Ngọc H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đào Thị Hồng L ly hôn ông Lý Ngọc H. Về con chung: Giao cháu Lý Gia L1, sinh ngày 09/10/2007 và cháu Lý Gia H1, sinh ngày 23/4/2013 cho bà Đào Thị Hồng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, ông Lý Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con. Con chung anh Lý Gia … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị Hồng L - Lý Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Hồng L đối với bị đơn ông Lý Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2023/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Chánh;

Bà Thiều Thị Phi Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2659/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 201/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đào Thị Hồng L, sinh năm 1977.

Địa chỉ: X/A, tổ Y, khu phố Z phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lý Ngọc H, sinh năm 1973.

Địa chỉ: X/A, tổ Y, khu phố Z phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Đào Thị Hồng L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông H kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 422 ngày 01/12/2002. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã và không tôn trọng lẫn nhau. Vì không muốn gia đình đỗ vỡ, vợ chồng đã nhiều lần trao đổi tìm cách giải quyết mâu thuẫn để xây dựng hạnh phúc nhưng không được. Tháng 3/2022, bà L đã nộp đơn ly hôn nhưng rút đơn để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ nhưng mâu thuẫn tiếp tục xảy ra. Hiện nay, 02 vợ chồng sống chung nhà nhưng đã ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay bà L xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà L và ông H có 03 con chung là anh Lý Gia B, sinh ngày 04/5/2003, cháu Lý Gia L1, sinh ngày 09/10/2007 và cháu Lý Gia H1, sinh ngày 23/4/2013. Ly hôn, bà L xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L1 và cháu H1, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Con chung anh Lý Gia B đã trưởng thành và có khả năng lao động, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lý Ngọc H đã được Tòa án triệu tập để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đào Thị Hồng L ly hôn ông Lý Ngọc H.

- Về con chung: Giao cháu Lý Gia L1, sinh ngày 09/10/2007 và cháu Lý Gia H1, sinh ngày 23/4/2013 cho bà Đào Thị Hồng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, ông Lý Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con. Con chung anh Lý Gia B đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Bà Đào Thị Hồng L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả xác minh ngày 01/12/2022 của Công an phường L, thành phố B thì bị đơn ông Lý Ngọc H đang cư trú tại X/A, tổ Y, khu phố Z phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Về việc vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng bà L có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà L và ông H kết hôn tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 422 ngày 01/12/2002. Căn cứ các Điều 9, 11, 12, 13 và Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, hôn nhân giữa bà L và ông H là hợp pháp. Theo bà L, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã và không tôn trọng nhau.

Theo kết quả xác minh ngày 27/01/2023, địa phương không biết được mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông H. Tuy nhiên, các đương sự đã được Tòa án triệu tập để hòa giải đoàn tụ nhưng bà L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, ông H vắng mặt không có lý do. Vì vậy, có cơ sở chứng minh bà L đã cương quyết ly hôn; ông H bỏ mặc, không muốn níu kéo tình cảm để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình.

Từ những nhận định trên, xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho bà L được ly hôn với ông H.

- Về con chung:

Bà L và ông H có 03 con chung là anh Lý Gia B, sinh ngày 04/5/2003, cháu Lý Gia L1, sinh ngày 09/10/2007 và cháu Lý Gia H1, sinh ngày 23/4/2013. Xét thấy, cháu L1 và cháu H1 có nguyện vọng sống chung với mẹ và bà L có thu nhập ổn định để nuôi dưỡng 02 con chung. Vì vậy, xuất phát từ lợi ích mọi mặt cho con chung, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu L1 và cháu H1 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con. Con chung anh Lý Gia B đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà L xác định tự thỏa thuận nhưng ông H không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Bà L xác định không có nhưng ông H không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 11, 12, 13 và Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị Hồng L đối với bị đơn ông Lý Ngọc H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Đào Thị Hồng L ly hôn ông Lý Ngọc H.

2. Về con chung: Giao cháu Lý Gia L1, sinh ngày 09/10/2007 và cháu Lý Gia H1, sinh ngày 23/4/2013 cho bà Đào Thị Hồng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; tạm thời, ông Lý Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con. Con chung anh Lý Gia B, sinh ngày 04/5/2003 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.

Ông Lý Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Bà Đào Thị Hồng L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004297 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ