- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2022/HS-ST Ngày: 14-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ông Phạm Quang Nghĩa
2. Ông Ông Châu Văn Nhâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Phan Quang Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2022/HSST-QĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
VÕ MINH T; Sinh năm 1999, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Không; Nơi cư trú: ấp 3A, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai; con ông Võ Minh N và bà Nguyễn Thị C; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2022 cho tới nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Chị Võ Thị Kiều R, sinh năm: 2001 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp 3A, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lý Hải C, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 2, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.
2. Anh Nguyễn Nhật Tr, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 3A, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 23/7/2022, sau khi đi chơi, bị cáo Võ Minh T về nhà tại ấp 3A, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai thì thấy nhà không có ai nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Để thực hiện ý định, T lấy chứng minh nhân dân của T ra để cạy lẫy khóa cửa bên hông nhà rồi đột nhập vào bên trong. Sau khi vào bên trong nhà, T thấy cửa phòng ngủ của em ruột là Võ Thị Kiều R đã khóa nên T trèo qua khoảng tường hở trên trần nhà vào phòng để tìm kiếm tài sản. Khi vào được trong phòng của chị R thì T lục tìm thấy trong tủ quần áo của chị R có 01 hộp đựng trang sức, bên trong có 02 (hai) chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng nên T đã chiếm đoạt 02 (hai) chiếc nhẫn trên. Sau đó, T đến nhà của anh Nguyễn Nhật Tr là anh rể của T. Khi đến nhà anh Tr, T rủ anh Tr đi ra chợ XH mua đồ thì anh Tr đồng ý. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 36H7-8715 chở anh Tr đến khu vực chợ XH để tìm nơi bán 02 nhẫn vàng T đã chiếm đoạt của chị R. Khi đến tiệm vàng KNM, tại ấp 2, xã XH, huyện XL, T một mình đi vào trong tiệm vàng, còn Tr thì ở bên ngoài. Tại đây, T lấy 02 nhẫn vàng ra bán cho tiệm vàng KNM (do anh Lý Hải C nhân viên tiệm vàng mua) với giá 2.500.000 đồng. Sau khi bán vàng xong, Tr mới hỏi T vào tiệm vàng làm gì thì T trả lời là vào bán vàng của chị R (nhưng không nói là vàng do trộm cắp của chị R), bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và rủ Tr cùng mua ma túy về sử dụng chung thì Tr đồng ý. Sau đó, T sử dụng toàn bộ số tiền bán 02 chiếc nhẫn vàng để mua ma túy đá của 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tại chợ XH, rồi cùng Tr sử dụng hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐG ngày 27/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Lộc kết luận: giá trị tài sản của 01 chiếc nhẫn vàng 18K, có gắn đá trọng lượng 5,3 phân và 01 chiếc nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 2,7 phân là 2.680.000 đồng (Hai triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) chiếc nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 2,7 phân do chị Phạm Thị Tuyết Mai (là nhân viên tiệm vàng KNM) giao nộp.
- 01 (một) chiếc nhẫn vàng 18K, có gắn đá trọng lượng 5,3 phân do chị Võ Thị Kiều R giao nộp.
- Tại bản cáo trạng số 149 /CT-VKSXL ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Võ Minh T về tội:“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc Tr hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn. Ngoài ra, Võ Minh T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, tài sản đã thu hồi một phần trả lại cho người bị hại, sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Minh T từ 06 tháng đến 08 tháng tù.
Bị cáo Võ Minh T trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 23/7/2022 tại nhà ông Võ Minh Nhân, thuộc ấp 3A, xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai; Võ Minh T đã có hành vi lén lút đột nhập vào phòng ngủ của chị Võ Thị Kiều R trộm cắp 01 chiếc nhẫn vàng 18K, có gắn đá trọng lượng 5,3 phân và 01 chiếc nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 2,7 phân của chị R. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo định giá tài sản là 2.680.000 đồng (Hai triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng). Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo Võ Minh T về tội:“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc Tr hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; tài sản đã thu hồi một phần trả lại cho người bị hại, sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại; tại phiên tòa bị hại xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần áp dụng mức hình phạt tù, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân, tính chất mức độ tham gia phạm tội của bị cáo nhằm răn đe bị cáo và để giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự.
- Đối với 01 (một) chiếc nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 2,7 phân do chị Phạm Thị Tuyết M (là nhân viên tiệm vàng KNM) giao nộp. Quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Võ Thị Kiều R nên Cơ quan Công an đã trả lại tài sản trên cho chị R là phù hợp. Nhận lại tài sản, chị R không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
- Đối với 01 (một) chiếc nhẫn vàng 18K, có gắn đá trọng lượng 5,3 phân do chị Võ Thị Kiều R giao nộp. Quá trình điều tra xác định là tài sản của chị R nên Cơ quan Công an đã trả lại tài sản trên cho chị R là phù hợp. Nhận lại tài sản, chị R không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
- Anh Lý Hải C là đại diện hợp pháp của tiệm vàng KNM yêu cầu Võ Minh T bồi thường số tiền 900.000 đồng là giá trị 01 (một) chiếc nhẫn vàng 18K, có trọng lượng 2,7 phân, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 900.000 đồng. Anh C đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét.
Đối với Nguyễn Nhật Tr không bàn bạc, giúp sức cho Võ Minh T trộm cắp tài sản của chị R nên không phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do không biết Võ Minh T có hành vi trộm cắp tài sản Nguyễn Nhật Tr đã cùng T đến tiệm vàng nhưng không biết T đi bán tài sản do T phạm tội mà có nên hành vi của Nguyễn Nhật Tr không phạm tội “Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với anh Lý Hải C đã có hành vi mua 02 nhẫn vàng của Võ Minh T nhưng anh C không biết đó là tài sản do T phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.
Đối với ý kiến và đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Minh T: 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2022.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Võ Minh T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Võ Minh T, bị hại Võ Thị Kiều R được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - Bị cáo; - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thanh |