vanban.org

Bản án 178/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 24/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 23/9/2021). Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2021/HS-ST
Ngày: 24/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG -TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thúy, ông Đinh Ngọc Phú.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 181/2021/HSST ngày 29/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2021/HSST-QĐ ngày 06/12/2021, Thông báo hoãn phiên tòa ngày 15/12/2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Đình B, sinh năm 2001; Quê quán: Thôn C, Xã D, thành phố Hải Phòng; Không đăng ký hộ khẩu thường trú và không có nơi ở cố định; Hiện sống lang thang ở khu vực phường Đ, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Đình G và bà Nguyễn Thị K; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 4; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2021 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn I, sinh năm 1976; chị Đỗ Thị Kim M, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Số 3/6/1.A8 V, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Đức N, anh Lê Đình S.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình B là đối tượng sống lang thang không có nơi ở ổn định. Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 19/9/2021, B đi bộ một mình ở khu vực phường Đ, thành phố H mục đích trộm cắp tài sản, khi đi đến nhà anh Nguyễn Văn I ở số 3/6/1.A8 V, phường Đ, thành phố H, B thấy cửa sổ tầng hai mở, đèn sáng. B trèo lên cây sấu trước cửa nhà rồi đu bám qua lan can vào ban công tầng hai, nhìn qua cửa sổ thấy cháu Nguyễn Mai F đang nằm ngủ một mình trên giường. B lấy hộp sữa nhãn hiệu Milo loại 110ml, màu xanh để trên thành cửa sổ và uống hết hộp sữa, sau đó B thò tay qua song cửa với lấy chiếc ba lô màu xanh của cháu F để trên ghế sát cửa sổ và lục soát thấy 02 chiếc chìa khóa (01 chìa khóa màu vàng, 01 chìa khóa màu trắng). B đu bám vào cây sấu tụt xuống đất, dùng một chìa khóa màu trắng mở cửa khung sắt màu trắng bên ngoài, tiếp tục dùng chìa khóa màu vàng mở cửa kính thủy lực khuôn bao gỗ rồi đi vào trong nhà thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đỏ-đen-trắng, BKS: 34N1-008.26 chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện, B dong xe ra ngoài đường rồi nổ máy điều khiển xe đến nhà anh Trần Đức N ở thôn D1, xã P1, C1, Hải Dương (là em họ B) để ngủ. Khi gặp N, B nói dối chiếc xe này do B tiết kiệm tiền mua được và nhờ N tìm hộ chỗ bán xe. Đến khoảng 8 giờ cùng ngày, B cùng N đi xe mô tô trên đến cửa hàng mua bán xe máy của anh Lê Đình S, ở Thôn D1, xã P1, C1, Hải Dương. Tại đây, B đặt vấn đề bán xe, anh S hỏi giấy tờ xe thì B nói dối là bị mất giấy đăng ký xe, anh S nghi ngờ nên thông báo cho Công an xã P1, huyện C1, tỉnh Hải Dương. Công an xã P1 đã lập biên bản và quản lý chiếc xe trên và bàn giao cho Công an thành phố Hải Dương điều tra theo thẩm quyền.

Tại Kết luận Định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 21/9/021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Hải Dương kết luận: Giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đỏ-đen-trắng, BKS: 34N1-008.26 là 16.966.400đ; Giá trị 01 hộp sữa Milo, màu xanh, loại 110ml là 4.800đ. Tổng giá trị tài sản: 16.971.200đ.

Ngày 26/9/2021, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đỏ-đen-trắng, BKS: 34N1-008.26 cho vợ chồng anh I, chị M.

Tại Cáo trạng số 178/CT-VKSTPHD, ngày 26/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Đình B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Tại đơn đề nghị của chị Đỗ Thị Kim M xác định gia đình chị đã nhận lại được chiếc xe máy, hộp sữa giá trị không đáng kể nên không đề nghị gì về trách nhiệm dân sự, chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình B, phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 23/9/2021; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo Nguyễn Đình B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, sơ đồ hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01giờ 10 phút ngày 19/9/2021, tại nhà anh Nguyễn Văn I ở số 3 ngách 6, ngõ 1.A8 V, phường Thanh B, thành phố H, Nguyễn Đình B có có hành vi lén lút chiếm đoạt của gia đình anh I 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đỏ-đen-trắng, BKS: 34N1-008.26 trị giá 16.966.400đ; 01 hộp sữa Milo màu xanh loại 110ml, trị giá 4.800đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 16.971.200đ.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những đã xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi, ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

.Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đỏ-đen-trắng, BKS: 34N1-008.26 cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại; 01 hộp sữa Milo giá trị nhỏ, gia đình anh I không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, hai chiếc chìa khóa gia đình anh I đã quản lý, nên không phải xem xét giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về vấn đề khác: Đối với anh Trần Đức N không biết việc B trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí sô 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình B phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình B 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 23/9/2021).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình B phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/12/2021); Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ