- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị U khởi kiện ly hôn anh Phạm Văn K"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị U, cho chị Nguyễn Thị U được ly hôn anh Phạm Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2020/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2020 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Ngọc Trường
Ông Nguyễn Văn Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 298/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2020, về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 308/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1991; cư trú tại: Ấp NB, xã TP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1998; cư trú tại: Ấp NB, xã TP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Nguyễn Thị U trình bày:
- Về hôn nhân: Anh chị chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau; hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cải nhau và đã ly thân đến nay gần hai tháng. Chị xác định không thể tiếp tục chung sống với nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn.
- Về con chung: Anh chị có một người con chung tên Phạm Thị Khả A, sinh ngày 28/4/2012, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000đ, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Phạm Văn K nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến giải trình đối với yêu cầu khởi kiện của chị U.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị U có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Phạm Văn K đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị U, anh K là phù hợp.
Về hôn nhân: Chị U và anh K chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, hôn nhân tự nguyện theo đúng quy định nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Xét nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị U xác định nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm dẫn đến thường xuyên cự cãi. Mặc khác, anh K không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị U, cho thấy anh không có nguyện vọng để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Dó đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cho chị U được ly hôn anh K.
Về con chung: Xét thấy, từ khi anh chị ly thân đến nay, cháu A sống chung với chị U vẫn phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, anh K không yêu cầu được nuôi dưỡng con và theo biên bản ghi nguyện vọng con chung ngày 29/7/2020 thể hiện cháu A có nguyện vọng sống chung với chị U. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, giao cháu A cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị U yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Xét thấy: Theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” và tại Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng có quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên… trong trường hợp không sống chung với con...”. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị U, buộc anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng 745.000đ, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi, phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.
Về tài sản chung: Chị U yêu cầu tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.
Về nợ: Chị U xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con: Chị U và anh K phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị U, cho chị Nguyễn Thị U được ly hôn anh Phạm Văn K.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Khả A, sinh ngày 28/4/2012 cho chị Nguyễn Thị U tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nôm con mà không ai được cản trở.
Buộc anh Phạm Văn K có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Phạm Thị Khả A số tiền là 745.000 (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng định kỳ hàng tháng.
Kể từ ngày chị Nguyễn Thị U có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Phạm Văn K chậm thi hành khoản tiền cấp dưỡng nêu trên, thì hàng tháng anh K còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
3. Về án phí:
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị U phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0010741 ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị U đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Văn K phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Nguyễn Thị U và anh Phạm Văn K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Đầm Dơi; - CCTHADS huyện Đầm Dơi; - UBND xã Trần Phán; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Quốc Trạng |