- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng tấn T - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 178/2019/HS-ST Ngày: 02 - 8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Phú;
2. Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, là Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 144/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 161/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Phùng Tấn T (tên gọi khác là T1), sinh năm 1987 tại tỉnh B; nơi cƣ trú: 2/100 khu phố B, phƣờng G, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn M, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1960; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thúy L, sinh năm 1988 và 01 ngƣời con sinh năm 2012;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 02/3/2015 bị Công an phƣờng G, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng theo quyết định số 203/QĐ-XPHC. Đã nộp phạt ngày 04/3/2015.
Bị bắt, tạm giam ngày 05/4/2019.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Quang L, sinh năm 1977; trú tại: 7N/6 khu 434 khu phố B, phƣờng B1, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. (Vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1965; HKTT: Khối 4, thị trấn C, huyện Q, tỉnh N; chỗ ở: Ô 75 đƣờng D1, KDC X, phƣờng A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. (Vắng mặt)
- Ngƣời làm chứng:
1. Ông Sơn Hoàng T2 (Vắng mặt);
2. Ông Hoàng Thế M (Có mặt);
3. Ông Huỳnh Duy H (Vắng mặt);
4. Ông Đặng Thanh H1 (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào đầu tháng 10/2018 ông Lê Quang L và ông Nguyễn Ngọc C cùng hùn vốn mở quán Karaoke 5 Sao tại địa chỉ Ô 78, lô DC30, đƣờng D1, KDC V, khu phố 4, phƣờng A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. L thuê Phùng Tấn T làm bảo vệ và trông giữ xe cho quán với tiền lƣơng là 20.000.000 đồng mỗi tháng, việc thuê T làm bảo vệ chỉ thống nhất bắng miệng, không ký hợp đồng lao động. Sau khi T đƣợc thuê làm bảo vệ cho quán, T nói Sơn Hoàng T2, Huỳnh Duy H tham gia trông, giữ xe, bán đồ ăn nhanh và bảo vệ quán. T không trả lƣơng hàng tháng mà cho tiền sinh hoạt hằng ngày cho những ngƣời này.
Khoảng cuối tháng 12/2018, T đi qua Campuchia bằng đƣờng tiểu ngạch đến khu vực chuyên tổ chức chơi đá gà. Tại đất Campuchia, T gặp và làm quen với một ngƣời đàn ông Campuchia (không rõ nhân thân, lai lịch) nhƣng nói đƣợc tiếng Việt Nam. Qua nhiều lần nói chuyện, ngƣời này hỏi T có mua súng không và nhờ T giới thiệu ngƣời nào có nhu cầu mua không, đồng thời, ngƣời này báo giá cho Thành 01 (một) khẩu súng K59 là 11.000.000 đồng (mƣời một triệu đồng) tiền Việt Nam, kèm theo 06 (sáu) viên đạn. T muốn mua để phòng thân và hù dọa nếu có ngƣời nào đến đập, phá quán Karaoke 5 Sao mà T đang bảo vệ nên thỏa thuận thống nhất mua 02 (hai) khẩu súng K59, kèm theo 12 (mƣời hai) viên đạn, thời gian và địa điểm giao dịch vào sáng hôm sau.
Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày hôm sau, T đến quán cà phê tại quán cà phê gần cửa khẩu biên giới A, Việt Nam (không nhớ tên). Ngƣời đàn ông trên bán cho T 02 (hai) khẩu súng K59, cùng 12 (mƣời hai) viên đạn đƣợc nạp sẵn trong 02 (hai) hộp tiếp đạn, mỗi hộp có 06 (sáu) viên đạn. T đƣa cho ngƣời này số tiền 22.000.000 đồng (hai mƣơi hai triệu đồng) tiền Việt Nam. Sau khi giao dịch xong, ngƣời này tặng cho T 01 (một) trái lựu đạn nhƣng đã hết thuốc nổ, T cất dấu vào túi xách và đi về quán Karaoke 5 Sao. T bỏ súng đạn mua đƣợc vào một túi xách da có ghi chữ “LV” của T. Riêng trái lựu đạn, T quấn một chiếc khăn màu trắng đục đựng trong bóp vải màu đen, rồi tiếp tục đựng bóp vải này trong một túi xách màu nâu xám. T trèo lên sân thƣợng đến vị trí sát mép mái tôn của quán Karaoke 5 Sao cất dấu.
Khoảng gần 23 giờ 00 ngày 04/4/2019, Hoàng Thế M quản lý quán Karaoke 5 Sao gặp T nói về việc có số điện thoại lạ gọi M hăm dọa là: Lát nữa sẽ cho ngƣời đến đánh M và đốt phá quán. Một lúc sau, T cũng nhận đƣợc các số điện thoại lạ gọi hăm dọa sẽ cho ngƣời đến chém T và đốt phá quán. Sau khi nghe lời đe dọa, T một mình đi lên sân thƣợng quán Karaoke 5 Sao, leo lên trên nơi cất, giấu vũ khí rồi lấy 02 (hai) khẩu súng K59, 02 (hai) hộp tiếp đạn bên trong mỗi hộp tiếp đạn có 06 (sáu) viên đạn đang để trong túi xách, T đeo vào ngƣời và trái lựu đạn cũng để trong túi xách khác cầm và ngồi ở sân thƣợng để chuẩn bị đánh nhau. T bỏ trái lựu đạn trong túi xách giấu gần nhà kho sân thƣợng quán Karaoke 5 Sao chuẩn bị nếu có ai đến phá quán sẽ sử dụng để hù dọa và chống trả. Lúc này có Huỳnh Duy H, Sơn Hoàng T2 đều là làm ở quán đi lên sân thƣợng của quán Karaoke 5 Sao để xem tình hình thế nào nếu có ngƣời đến đập phá thì sẽ hỗ trợ để bảo vệ quán. Trong thời gian ngồi trên ghế ở sân thƣợng, T lấy ra 01 (một) khẩu súng K59 và lấy một chiếc khăn ra để lau chùi, sau đó giắt vào bên hông ngƣời. Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 05/4/2019, lực lƣợng Công an thị xã Thuận An tiến hành kiểm tra hành chính. T thấy Công an lên sân thƣợng kiểm tra nên T bỏ chạy về phía sau sân thƣợng, lấy túi xách đang đeo trên ngƣời bên trong có khẩu súng K59, hộp tiếp đạn có 06 (sáu) viên đạn và khẩu súng K59, hộp tiếp đạn có 06 (sáu) viên đạn ném sang mái tôn nhà bên cạnh nên bị phát hiện thu giữ.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) khẩu súng Makarov K59 bằng kim loại, tay cầm bằng gỗ (phần kim loại màu trắng sáng), trên thân súng có ghi mã số “70881989”;
- 01 (một) khẩu súng Makarov K59 bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa (phần kim loại màu nâu đen), trên thân súng có ghi mã số “BA1905…” (các số sau không quan sát đƣợc bằng mắt thƣờng);
- 02 (hai) hộp tiếp đạn (bên trong mỗi hộp có 06 viên đạn);
- 01 (một) trái lựu đạn phía trên có ghi mã số “NLC97A39929”;
- 02 (hai) viên đạn màu vàng đồng.
- 01 (một) túi da màu nâu có chữ LV;
- 01 (một) khăn vải màu trắng đục;
- 01 (một) bóp vải màu đen có ghi dòng chữ VALUE;
- 01 (một) túi xách màu nâu xám có chữ LOUIS VUITTON;
- 01 (một) điện thoại di động màu trắng đen có ghi chữ “iPhone”.
Tại Kết luận giám định số 2041/C09B ngày 11/4/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện khoa học hình sự kết luận:
- Khẩu súng ngắn (ốp tay cầm bằng nhựa) gửi giám định là sùng Makarov (K59), số súng bị mài mòn không xác định đƣợc. Tiến hành bắn thực nghiệm với loại đạn tiêu chuẩn cỡ 9mm x 18mm, kết quả súng bắn đƣợc đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí quân dụng.
- Khẩu súng ngắn (ốp tay cầm bằng gỗ) gửi giám định là súng Makarov (K59), số nguyên thủy đóng trên thân súng “70881989”. Hiện tại, buồng chứa đạn của khẩu súng đã thay đổi (có dấu vết hàn, nối) nên không bắn đƣợc với loại đạn tiêu chuẩn cỡ 9mm x 18mm. Tiến hành bắn thực nghiệm với loại đạn chế tạo thủ công có chiều dài vỏ đạn lên đến 17mm, kết quả súng bắn đƣợc đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tƣơng tự vũ khí quân dụng và không phải vũ khí quân dụng.
- 02 (hai) hộp tiếp đạn gửi giám định là hộp tiếp đạn của vũ khí quân dụng.
- 12 (mƣời hai) viên đạn gửi giám định, trong đó:
+ 01 viên đạn ký hiệu 38 87 là đạn chƣa bắn thuộc loại đạn tiêu chuẩn cỡ 9mm x 18mm. Tiến hành bắn thực nghiệm với viên đạn nêu trên, kết quả đạn nổ;
+ 02 viên đạn có cùng ký hiệu FC 380 AUTO (đƣờng kính đầu đạn 9mm, chiều dài vỏ đạn 17mm) là đạn chƣa bắn, đƣợc chế tạo từ loại đạn tiêu chuẩn cỡ 9mm. Tiến hành bắn thực nghiệm với viên đạn nêu trên, kết quả đạn nổ;
+ 06 viên đạn có cùng ký hiệu THAI ARMS 9mm là đạn chƣa bắn, thuộc loại đạn tiêu chuẩn cỡ 9mm x 18mm. Tiến hành bắn thực nghiệm 04/06 viên đạn nêu trên, kết quả đạn nổ;
+ 03 viên đạn có cùng ký hiệu NRC 9MM LUGER là đạn chƣa bắn, thuộc loại đạn tiêu chuẩn cỡ 9mm x 18mm. Tiến hành bắn thực nghiệm 03/03 viên đạn nêu trên, kết quả đạn nổ. (Hoàn lại đối tƣợng giám dịnh là 02 khẩu súng, 02 hộp tiếp đạn, 02 viên đạn);
Tại bản kết luận giám định số 2041/1/C09B ngày 11/4/2019 của Phân viện Khoa học hình sự tại TP. Hồ Chí Minh, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là lựu đạn tập, vỏ bằng kim loại, dùng trong huấn luyện quân sự (trên có ghi mã số “NLC97A39929”) không có thuốc nổ và không thuộc nhóm vũ khí quân dụng. Hiện tại, không còn khả năng gây nổ.
Tại Cáo trạng số: 17/CT-VKS-P1 ngày 05/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Phùng Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vụ án đƣợc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng phân công Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng và bản luận tội, đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phùng Tấn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) túi da màu nâu có chữ LV; 01 (một) khăn vải màu trắng đục; 01 (một) bóp vải màu đen có ghi dòng chữ VALUE; 01 (một) túi xách màu nâu xám có chữ LOUIS VUITTON. Trả lại cho bị cáo Phùng Tấn T 01 (một) điện thoại di động màu trắng đen có ghi chữ “iPhone” (không kiểm tra đƣợc số IMEI, không kiểm tra tình trạng bên trong máy).
Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dƣơng xử lý theo quy định của pháp luật, các vật chứng gồm: 01 (một) khẩu súng Makarov K59 bằng kim loại, tay cầm bằng gỗ (phần kim loại màu trắng sáng), trên thân súng có ghi mã số “70881989”; 01 (một) khẩu súng Makarov K59 bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa (phần kim loại màu nâu đen), trên thân súng có ghi mã số “BA1905…” (các số sau không quan sát đƣợc bằng mắt thƣờng); 02 (hai) hộp tiếp đạn; 01 (một) trái lựu đạn phía trên có ghi mã số “NLC97A39929”; 02 (hai) viên đạn màu vàng (hoàn lại sau giám định) để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phùng Tấn T không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp. Tại phiên tòa, bị cáo từ chối ông Phạm Huy Đức là ngƣời bào chữa cho bị cáo, xét việc từ chối ngƣời báo chữa của bị cáo là phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Tấn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 05/4/2019, tại quán Karaoke 5 Sao tọa lạc Ô 78, lô DC30, đƣờng D1, KDC V, khu phố 4, phƣờng A, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, Công an thị xã Thuận An tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện Phùng Tấn T cất giấu 01 (một) khẩu súng ngắn (ốp tay cầm bằng nhựa) Makarov K59, cùng 12 (mƣời hai) viên đạn đƣợc nạp sẵn trong 02 (hai) hộp tiếp đạn, mỗi hộp có 06 (sáu) viên đạn là vũ khí quân dụng (theo kết luận giám định 2041/C09B ngày 11/4/2019). Ngoài ra, công an còn thu giữ 01 (một) khẩu súng ngắn (ốp tay cầm bằng gỗ) Makarov K59 và 01 (một) trái lựu đạn, tuy nhiên qua giám định xác định khẩu súng ngắn này là vũ khí có tính năng, tác dụng tƣơng tự vũ khí quân dụng và không phải vũ khí quân dụng và quả lụa đạn này không có thuốc nổ và không thuộc nhóm vũ khí quân dụng, không còn khả năng gây nổ (theo bản kết luận giám định số 2041/1/C09B ngày 11/4/2019). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nƣớc, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo biết việc tàng trữ súng đạn quân dụng mà không đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật nhƣng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu từng bị Công an phƣờng G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào năm 2015, do đó cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên đƣợc chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) khẩu súng Makarov K59 bằng kim loại, tay cầm bằng gỗ (phần kim loại màu trắng sáng), trên thân súng có ghi mã số “70881989”; 01 (một) khẩu súng Makarov K59 bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa (phần kim loại màu nâu đen), trên thân súng có ghi mã số “BA1905…” (các số sau không quan sát đƣợc bằng mắt thƣờng); 02 (hai) hộp tiếp đạn; 01 (một) trái lựu đạn phía trên có ghi mã số “NLC97A39929”; 02 (hai) viên đạn màu vàng (hoàn lại sau giám định), hiện cơ quan điều tra đã bàn giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dƣơng quản lý nên cần tiếp tục giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dƣơng để xử lý theo quy định của pháp luật.
- 01 (một) túi da màu nâu có chữ LV; 01 (một) khăn vải màu trắng đục; 01 (một) bóp vải màu đen có ghi dòng chữ VALUE; 01 (một) túi xách màu nâu xám có chữ LOUIS VUITTON là tài sản của bị cáo T, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động màu trắng đen có ghi chữ “iPhone” là tƣ vật của bị cáo T không liên quan đền vụ án nên sẽ trả lại cho bị cáo.
Đối với ông Lê Quang L va ông Nguyễn Ngọc C là chủ quán Karaoke 5 Sao, quá trình điều tra xác định ông L và ông C không biết bị cáo Thành tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng tại quán nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo Phùng Tấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phùng Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép vụ khí quân dụng”.
Xử phạt: Phùng Tấn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2019.
2. Về xử lý vật chứng:
Tiếp tục giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dƣơng xử lý theo quy định của pháp luật, các vật chứng gồm: 01 (một) khẩu súng Makarov K59 bằng kim loại, tay cầm bằng gỗ (phần kim loại màu trắng sáng), trên thân súng có ghi mã số “70881989”; 01 (một) khẩu súng Makarov K59 bằng kim loại, tay cầm bằng nhựa (phần kim loại màu nâu đen), trên thân súng có ghi mã số “BA1905…” (các số sau không quan sát đƣợc bằng mắt thƣờng); 02 (hai) hộp tiếp đạn; 01 (một) trái lựu đạn phía trên có ghi mã số “NLC97A39929”; 02 (hai) viên đạn màu vàng (hoàn lại sau giám định).
(Các vật chứng này đƣợc Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng bàn giao cho Kho VK- Đ Phòng kỹ thuật thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dƣơng theo biên bản giao nhận ngày 02/5/2019).
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) túi da màu nâu có chữ LV; 01 (một) khăn vải màu trắng đục; 01 (một) bóp vải màu đen có ghi dòng chữ VALUE; 01 (một) túi xách màu nâu xám có chữ LOUIS VUITTON.
Trả lại cho bị cáo Phùng Tấn T 01 (một) điện thoại di động màu trắng đen có ghi chữ “iPhone” (không kiểm tra đƣợc số IMEI, không kiểm tra tình trạng bên trong máy).
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/6/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Thuận An và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận An).
3. Về án phí:
Bị cáo Phùng Tấn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Thuận An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; - Ngƣời tham gia tố tung khác; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA- TAND tỉnh Bình Dƣơng; Hồ Thanh Thủy |