vanban.org

Bản án 178/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 17/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Đức T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Đức T 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 22 ngày 04/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chun… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dƣơng Đức T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Đức T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2019/HS-ST
Ngày: 17 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Định.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Đức Đích và bà Nguyễn Thị Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: Bà: Trần Thị Kim Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2019 tại Hội T xét xử Toà án nhân dân TP. Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 174/2019/HSST ngày 02/5/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dƣơng Đức T - Sinh ngày 04/8/1991 tại Quảng Ninh.

Nơi cư trú: Tổ 77, khu 9, phường C, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn H (Đã chết) và bà: Dương Thị Thúy N; Vợ con: Chưa có;

Tiền án:

+ Ngày 20/02/2012, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 25/11/2013, chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 10/9/2012, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

+ Ngày 25/4/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 30 tháng tù, về tội: “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/6/2017, chấp hành xong hình phạt tù.

+Ngày 02/02/2018 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù, về tội: “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/7/2018, chấp hành xong hình phạt tù.

Nhân thân:

+ Ngày 12/6/2007 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 02 năm tù, về tội: “ Cướp tài sản”. (Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị can 15 tuổi 7 tháng 5 ngày).

+ Ngày 04/01/2019 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 27/10/2018, về tội: “Trộm cắp tài sản”. (Ngày thực hiện hành vi phạm tội là ngày 26/10/2018).

Bị cáo bị hiện đang chấp hành bản án số 22 ngày 04/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tại Trại tạm giam Công tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Cao Quốc V - Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ 52, khu 5, phường C, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh: Nguyễn T1 - sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ 18, khu 2, phường Hi, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa – Có đơn xin xử án vắng mặt.

2. Anh: Vũ T2 - sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ 12, khu 7, phường C, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

3. Bà: Dương Thị Thúy N - Sinh năm 1967; Nơi cư trú: Tổ 77, khu 9, phường C, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Đức T, Vũ T2 và anh Cao Quốc V là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Khoảng 19 giờ ngày 15/9/2018, Dương Đức T rủ anh Cao Quốc V và Vũ T2 đến nhà nghỉ HT thuộc tổ 30C, khu 2B, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long chơi vì nghĩ anh V có ma túy để sử dụng, anh V và Tuấn đồng ý. Anh V điều khiển xe mô tô của mình là xe Honda Wave S biển kiểm soát (BKS) 14P9-76 để chở T và Vũ T2 đến nhà nghỉ Hương Thảo. Khi đến nơi, anh T để xe ở sân trước cửa nhà nghỉ Hương Thảo rồi cả ba đi vào một phòng nghỉ, nhưng do không có ma túy sử dụng nên cả ba chỉ ngồi chơi. Được một lúc, T nảy sinh ý định mượn xe của anh V mang đi cầm cố để lấy tiền chơi điện tử bắn cá. Để thực hiện ý định của mình, T nói với anh V mượn xe đi có việc một lúc sẽ trả ngay, anh V đồng ý và đưa chìa khóa xe mô tô cho T.

Sau khi mượn được xe của anh V, T điều khiển xe Honda Wave S BKS 14P9-7776 đến quán Câu lạc bộ Bi-a giải trí game thuộc tổ 1, khu 6, phường Hà Lầm, thành phố Hạ Long, gặp thanh niên là quản lý quán (không rõ lai lịch địa chỉ) và nói với thanh niên này đây là xe của T, đồng thời thỏa thuận cầm cố xe cho nam thanh niên lấy 3.000.000 đồng, trong đó có 1.000.000đồng T nhận trực tiếp và 2.000.000đồng sẽ dùng lên điểm để chơi bắn cá. Đối với số tiền 1.000.000đồng, nam thanh niên quản lý đưa cho T 900.000đồng, giữ lại 100.000đồng là tiền lãi khi cầm cố. Sau khi nhận tiền, T đã gọi Vũ T2 và Nguyễn T1 (là bạn của T) đến quán điện tử chơi game cùng. Khoảng 30 phút sau, Vũ T2, Nguyễn T1 đi xe taxi đến, T lấy số tiền mà thanh niên quản lý quán đã đưa trả tiền taxi hết 150.000đồng, còn 750.000đồng và 2.000.000đồng đã lên điểm sẵn trong máy, T cùng với Vũ T2 và Nguyễn T1 đã chơi bắn cá hết. Sau khi chơi điện tử hết tiền, T lại tiếp tục gặp quản lý quán để cầm thêm số tiền 500.000đồng, T trả tiền chè thuốc và nước uống cho quán hết 150.000đồng, còn 350.000đồng T cùng Vũ T2 và Nguyễn T1 trả tiền taxi đi về và ăn tiêu hết. Anh Cao Quốc V không thấy T mang xe về trả, liên lạc nhiều lần nhưng không được nên anh V đã đến trình báo Công an. Đến ngày 27/10/2018, Dương Đức T bị Cơ quan điều tra bắt khẩn cấp trong một vụ án khác. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm vật chứng đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda WaveS, màu đỏ BKS 14P9–76 nhưng hiện chưa thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 222 ngày 30/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hạ Long, kết luận: chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ BKS 14P9-76, tại thời điểm bị chiếm đoạt, trị giá 4.375.000đồng.

Người bị hại anh Cao Quốc V khai: Vào ngày 15/9/2018, tại nhà nghỉ HT thuộc tổ 30C, khu 2, phường Cao Xanh, TP.Hạ Long, T có mượn chiếc xe mô tô Honda Wave S màu đỏ biển số 14P9-76 của V nói là mượn xe đi có việc nhưng đã mang đi cầm cố tại quán bắn cá (Đối diện sân bóng Hà Lầm) lấy tiền ăn tiêu không được sự đồng ý của V, T cũng không trả lại xe cho V. Đến nay T đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đã có trách nhiệm khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại với số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) cho V, nay anh V không yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ T2 và anh Nguyễn T1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo và bị hại về nội dung vụ án. Các anh đều khai sau khi bị cáo T gọi điện đến quán chơi game thì các anh mới biết là T đã dùng tiền cắm xe của anh Cao Quốc V để rủ các anh chơi game, các anh không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Thúy N (mẹ của bị cáo T) tại phiên tòa có lời khai: Bà đã cùng bị cáo bồi thường cho anh V tổng số tiền 6.000.000đ để khắc phục hậu quả. Nay bà không có yêu cầu và đề nghị gì khác.

Tại Cáo trạng số 128/CT-VKSHL ngày 26/4/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố Dương Đức T về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt Dương Đức T từ 24 đến 30 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự số 22 ngày 04/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long. Buộc bị cáo phải chấp hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 60 đến 66 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 27/10/2018.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng, không đề nghị áp dụng phạt tiền đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời trình bày của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 15/9/2018, tại nhà nghỉ HT thuộc tổ 30C, khu 2B, phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, do không có tiền chơi điện tử và chi tiêu cá nhân, Dương Đức T đã có hành vi lừa mượn xe môtô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ BKS 14P9 – 76 của anh Cao Quốc V, trị giá 4.375.000 đồng mang đi cầm cố lấy 3.500.000đồng để chi tiêu hết.

Mặc dù bị cáo Dương Đức T chiếm đoạt tài sản có giá trị 4.375.000đồng, nhưng lần phạm tội này của bị cáo T thuộc T hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người khác. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

Khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, nhưng dù có xem xét giảm nhẹ hình phạt đến đâu thì việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới có tác dụng phòng ngừa tội phạm.

Do bị cáo đang chấp hành hình phạt 36 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 22 ngày 04/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, nên cần tổng hợp hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

Về phần dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, người liên quan bà Ngọc không yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi hoàn lại số tiền đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ BKS 14P9-76 của anh V mà bị cáo chiếm đoạt mang đi cầm cố lấy 3.500.000đồng đã chi tiêu hết, chiếc xe hiện chưa thu hồi được, nhưng gia đình bị cáo đã bồi thường trị giá chiếc xe cho anh V nên không buộc bị cáo phải nộp lại số tiền trên để sung ngân sách Nhà nước.

Nội dung khác: Đối với Vũ T2 và Nguyễn T1, sau khi được T gọi đến quán điện tử để cùng chơi Game thì mới được biết T đã mang xe mô tô của anh V đi cầm cố để lấy tiền chơi game, do giá trị tài sản T mang đi cầm cố cấu thành tội ít nghiêm trọng nên hành vi của Vũ T2 và Nguyễn T1 không cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử không đề cập.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Bộ Luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Đức T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Dương Đức T 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 22 ngày 04/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 60 (Sáu mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 27/10/2018 (ngày bị cáo bị bắt tạm giam theo bản án số 22 ngày 04/01/2019).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Dương Thị Thúy Ngọc); vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Nguyễn T1 và anh Vũ T2). Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ