vanban.org

Bản án 178/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Xử phạt Trần Văn H 15 (M lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Đông Lỗ, huyện Hiệp H1, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H VPGT - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2019/HS-ST
Ngày 29 - 7 - 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H1 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hồng;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Như Vũ;

Ông Nguyễn Việt Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Công - Kiểm sát viên.

Ngày 29/7/2019 tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 180/2019/TLST-HS, ngày 27/6/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2019/QĐXXST-HS ngày 17/7/2019 đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ H vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn H1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957; Có vợ: Ngô Thị T, sinh năm 1989 và có 03 con: con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 07/12/2019; Có mặt.

*Người bị hại: Anh Ngô Phú M, sinh năm 1986 (Đã chết).

Đại diện gia đình người bị hại: Ông Ngô Phú Đ, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Có mặt.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Đức Nam P, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Phòng, chung cư H1 Long K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13h00’ ngày 18/7/2018, tại ngã tư giao giữa đường Âu Cơ và đường Tô Hiến Thành thuộc phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, Trần Văn H, sinh năm 1986 trú tại thôn Khoát, xã Đỗng Lỗ, huyện Hiệp H1, tỉnh Bắc Giang Đ khiển xe ô tô BKS 99A-139.84 đi trên đường Âu Cơ hướng từ H1 Long đi cầu cạn YNa va chạm với xe mô tô BKS 99C1-248.10 do anh Trần Đức Nam P, sinh năm 1980 ở Chung cư H1 Long Kinh Bắc, phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Đ khiển chở sau là anh Ngô Phú M, sinh năm 1986, trú tại xã Tương Giang, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đi trên đường Tô Hiến Thành hướng từ Chung cư H1 Long Kinh Bắc đi trường Trung H phổ thông Chuyên Bắc Ninh. Hậu quả: Anh M tử vong, anh P bị thương và hai P tiện hư hỏng.

Sau khi sự việc xảy ra, cơ quan Cảnh sát Đ tra Công an thành phố Bắc Ninh đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và tạm giữ hai P tiện liên quan đến tai nạn giao thông và 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 240075245362 mang tên Trần Văn H.

* Khám nghiệm hiện trường xác định:

Tiến hành khám nghiệm hiện trường trong Đ kiện thời tiết nắng nóng.

Tình trạng hiện trường: Còn nguyên vẹn; nạn nhân đã được đưa đi cấp cứu.

Đoạn đường xảy ra tai nạn tại ngã tư. Đường Âu Cơ đường hai chiều mặt đường dải nhựa, có vạch kẻ đường, mặt đường rộng 15m, trên vỉa hè có hệ thống biển báo 207ª (giao nhau với đường không ưu tiên); đường Tô Hiến Thành đường hai chiều, mặt dải nhựa có vạch kẻ đường, mặt đường rộng 10,5m, trên vỉa hè có hệ thống biển báo 208 (giao nhau với đường ưu tiên) nhưng bị cây xanh che khuất.

Lấy mép đường bên phải đường Âu Cơ hướng từ H1 Long đến cầu cạn Yna làm chuẩn; chọn mép đường bên trái Tô Hiến Thành hướng từ đường Lạc Long Quân đến khu Thị Chung làm mốc. Kí hiệu (1) dấu vết dầu, nước kính; (2) vết cày xước trên mặt đường; (3) hỗn hợp chất màu nâu đỏ; (4) hỗn hợp chất màu nâu đỏ.

Xe ô tô BKS 99A-139.84 đỗ trên đường Âu Cơ đầu ra sát mép đường làm chuẩn, hướng cầu cạn Y Na đuôi xe quay hướng xã H1 Long trục trước bên phải xe trùng mép đường bên chuẩn, đo tâm trục sau bên phải đến mép đường làm chuẩn 0,5m, đến mép đường làm mốc 16,2m. Xe mô tô BKS 99C1-248.10 đổ ngả bên trái nằm ngang trên đường Âu Cơ, đo trục trước xe trùng mép đường làm chuẩn, trục sau cách mép đường làm chuẩn 1,1m; Khoảng cách từ tâm trục trước bên phải xe ô tô đến trục trước xe mô tô là 0,5m. Trong ngã tư phát hiện vết dầu nước (1) loang thành vệt dài trên diện (25,4x0,3)m rõ nét điểm đầu vết (1) đến mép đường làm chuẩn 6,1m, đến mép đường làm mốc 6,0m, điểm cuối kết thúc tại dưới gầm dẫn nóng két nước đầu xe, chiều hướng vết từ H1 Long đến Y Na. Vết (2) gần vị trí vết một, vết cày xước dọc theo vị trí vết (1), vết cày này không liên tục kích thước (23,3x0.7)m được hình thành bởi nhiểu vết rõ điểm đầu vết (2) đến mép đường làm chuẩn 5,6m, điểm cuối kết thúc tại bàn đế chân người ngồi lái người ngồi sau, đầu tay nằm bên trái xe mô tô 99C1-248.10, chiều hướng vết cùng chiều vết (1). Khoảng cách từ điểm đầu vết (1) đến đầu vết (2) là 1,8m. Dấu vết (3) hỗn hợp chất màu nâu đỏ trên diện (5,1x0,7)m trên mặt đường nhựa dạng phun đã khô điểm đầu vết cách điểm mốc 5,0m, cách mép chuẩn 1,8m, cuối vết là một đám chất lỏng loãng tụ tại vị trí điểm cong của ngã tư. Vết này có hình vệt dài từ điểm đầu đến điểm cuối. Dấu vết (4) hỗn hợp chất màu nâu đỏ đã khô, vết mài trên diện (4,2x0.4)m. Tâm vết (4) tại vị trí điểm cong của ngã tư đo từ tâm đến mép chuẩn 3,6m, đến điểm mốc 4,5m.

* Khám nghiệm P tiện xe mô tô BKS 99C1-248.10 xác định:

Gãy mất hoàn toàn yếm xe bên trái. Phần yếm xe bên phải rải rác không liên tục có vết vỡ, mất nhựa, mặt ngoài cánh yếm này có bám dính hợp chất màu đỏ hồng, trắng trên diện (27x10)cm. Tại vị trí ốp nhựa phía ngoài hộp số bên phải có diện bục xước nhựa kích thước (5,5x2)cm, điểm cao nhất cách đất 30cm, chiều hướng từ trước về sau. Rách một phần cao su tại vị trí để chân người lái bên phải trên diện (6x3)cm. Tại vị trí đầu chân đạp nổ máy xe có bám dính hợp chất màu đen trắng kéo dài 3cm. Tại vị trí ốp nhựa thân xe phía dưới bên phải có diện chà sát biến dạng nhựa trên diện (20x10)cm, điểm biến dạng sâu nhất cách đất 51cm. Gãy rời hoàn toàn phần thụt phía sau bên phải xe. Móp mép biến dạng ốp kim loại phía ngoài bô xe trên diện (30x9)cm, chiều hướng từ phải sang trái theo chiều của xe, trên điểm bẹp lõm này bám dính hợp chất màu xám dạng mài trượt, chiều hướng từ trước về sau. Gãy mất hoàn toàn băng để chân ngưởi ngồi sau bên phải. Cong gập biến dạng để chân người lái bên trái, chiều hướng từ trên xuống dưới cách vị trí ban đầu 8cm. Tại vị trí đầu để chân người lái bên trái có đám bục rách cao su bám dính bên đất trên diện (6x4)cm. Gãy rời hoàn toàn cổ hút liên kết giữa chế với đầu bò của xe.

* Khám nghiệm P tiện xe ô tô BKS 99A-139.84 xác định:

Vỡ trùm toàn kính chắn gió phía trước, tâm vết vỡ cách khung xe bên phải 64cm, cách mép trên 30cm, diện thủng kính chắn gió có đường kính 64cm, trên mặt bên phải phía trong kính chắn gió này bám dính hợp chất màu nâu đỏ dạng vệt chiều hướng từ ngoài vào trong. Tại vị trí mặt táp lô có rải rác mảnh vụn kính mặt ghế, sàn phía trước của xe rải rác nhiều mảnh vụn kính. Tại vị trí khung xe bên phải có vết bẹp lõm kim loại KT (6x3,5)cm, chiều hướng từ trước về sau của xe, điểm gần nhất cách mép trên kính chắn gió 30cm, tương ứng dấu vết này về phía kính chắn gió có vết vỡ kính, tâm vết vỡ cách mép khung xe bên phải 4cm, cách mép trên kính chắn gió 31cm. Gãy vỡ biến dạng hoàn toàn ba đờ sốc phía trước chiều hướng từ trước về sau, lụi rách lốp nồi nhựa. Bục rách một phần lưới tản nhiệt trên diện (4x3)cm chiều hướng từ trước về sau, cách mép phải lưới tản nhiệt này 14cm, cách mép dưới 3cm. Tại vị trí xương dàn đầu (lắp thêm) bị biến dạng xô đẩy từ trước về sau theo chiều của xe, điểm gấp sau nhặt cách mép phải xương dàn đầu 41cm. Tại vị trí mép dưới biển số xe trước tương ứng vị trí dấu chấm và số 8 của biển số xe có diện chà sát mài mòn, mất sơn KT (3x1,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 39cm. Tại vị trí ba đờ sốc phía trước bên trái lô gô xe có diện chà sát bám dính hợp chất màu đen KT (18x15)cm, chiều hướng từ trái sang phải, theo chiều của xe, điểm thấp nhất cách đất 60cm. (BL169,170)

* Khám nghiệm tử thi Ngô Phú M xác định

Vùng trán đến vùng cung lông mày phải đến gò má phải có nhiều vết xây sát da nông không liên tục trên diện (11x17)cm. Vùng đỉnh mũi đến vùng quanh miệng, vùng cằm có nhiều vết xây xát da nông không liên tục trên diện (14x16)cm. Vết thương rách da vùng cằm bên phải có kích thước (8x2)cm, bờ mép tương đối gọn. Vùng vành tai trái đến vùng thái dương trái có nhiều vết rách da không liên tục trên diện (10x3)cm, các vết rách da bờ mép tương đối gọn. Vùng cổ trước đén vùng cổ trái có vết rách da kích thước (11x3)cm bờ mép tương đối gọn. Gãy kín 1/3 cẳng chân dưới bên phải và nhiều vết xây xát da vùng chân, đầu gối.

Giải phẫu qua vết rách da vùng cổ bên trái thấy rách cơ ức đòn chũm bên trái, rách qua vùng khớp cổ C2, C3, đứt động tĩnh mạch cảnh ngoài bên trái; đứt động mạch đốt sống bên trái.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 254/KLPY-PC54 ngày 06/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận nguyên nhân chết của anh Ngô Phú M là do mất máu cấp dẫn đên suy tuần hoàn, suy hô hấp. Các vết sây sát da và bầm tụ máu trên cơ thể anh Ngô Phú M là do vật tầy tác động trực tiếp gây ra; Vết thương rách da vùng cằm và vùng cổ trái là do vật tầy có cạnh sắc gây nên. (BL149-151).

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 50/KL-HĐ ngày 16/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh kết luận thiệt hại đối với xe mô tô BKS 99C1-248.10 là 4.000.000đ.

Đối với thương tích của anh P, do bị cáo H đã bồi thường chi phí viện phí Đ trị vết thương nên anh P từ chối giám định tỷ lệ thương tích và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì thêm. (BL 88,103).

Quá trình Đ tra bị cáo và đại diện gia đình bị hại anh M và các bên có liên quan đã tự thỏa thuận giải quyết xong, không ai yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì thêm, do đó không đặt ra để giải quyết.

Với nội dung vụ án như trên Cáo trạng số 138/CT – VKS - TPBN, ngày 26/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố Trần Văn H về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo Điểm a, Khoản 1, Đ 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng.

Đại diện gia đình người bị hại ông Ngô Phú Đ là bác ruột bị hại xác định anh Ngô Phú M bị chết là do Trần Văn H điểu khiển xe ô tô gây tai nạn. Đến nay hai bên gia đình đã thống nhất bồi thường dân sự xong. Về TNDS không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm. Về TNHS: đề nghị M truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Cũng tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Bắc Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a, Khoản 1, Đ 260; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2, Đ 51; Đ 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 15 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 40 tháng. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 240075245362 mang tên Trần Văn H.

Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh mà nhận tội và xác nhận lỗi do bị cáo, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Đ tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, các biên bản khám nghiệm xe ôtô, mô tô và các tài liệu khác thể hiện: Khoảng 13h00’ ngày 17/8/2018, Trần Văn H, có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 Đ khiển xe ôtô BKS 99A-139.84 đi trên đường Âu Cơ hướng từ H1 Long đi cầu cạn YNa với vận tốc GPS là 71km/h, vận tốc cơ là 76km/h khi đi đến đoạn ngã tư giao giữa đường Âu Cơ và đường Tô Hiến Thành thuộc phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh do chạy quá tốc độ theo quy định, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên xe ô tô của Trần Văn H Đ khiển đã đâm vào sườn bên phải xe mô tô BKS 99C1-248.10 do Trần Đức Nam P Đ khiển chở sau là Ngô Phú M đi trên đường Tô Hiến Thành hướng từ Chung cư H1 Long Kinh Bắc đi trường Trung H phổ thông Chuyên Bắc Ninh. Hậu quả: Anh M tử vong, anh P bị thương và hai P tiện hư hỏng.

Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các P tiện liên quan và khám nghiệm tử thi sau khi xảy ra tai nạn, lời trình bày của bị cáo và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, xác định khoảng 13h00’ ngày 17/8/2018, Trần Văn H, có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 Đ khiển xe ôtô BKS 99A-139.84 đi trên đường Âu Cơ hướng từ H1 Long đi cầu cạn Yna. Khi đi đoạn ngã tư giao giữa đường Âu Cơ và đường Tô Hiến Thành thuộc phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh do chạy quá tốc độ theo quy định, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên xe ô tô của Trần Văn H Đ khiển đã đâm vào sườn bên phải xe mô tô BKS 99C1-248.10 do Trần Đức Nam P Đ khiển chở sau là anh Ngô Phú M đi trên đường Tô Hiến Thành hướng từ Chung cư H1 Long Kinh Bắc đi trường Trung H phổ thông Chuyên Bắc Ninh. Hậu quả: Anh M tử vong và xe mô tô BKS 99C1-248.10 thiệt hại 4.000.000đ. Hành vi Đ khiển xe ô tô không chú ý quan sát, vượt quá tốc độ (từ 21km/h đến 26km/h) và không giảm tốc độ của Trần Văn H đã vi phạm khoản 23, Đ 8; Đ 24 Luật giao thông đường bộ Việt Nam và Đ 6 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ gây hậu quả một người chết. Vì vậy hành vi trên của Trần Văn H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điểm a, Khoản 1, Đ 260 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng và lời luận tội đối với bị cáo H của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh là hoàn toàn có căn cứ, việc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của anh M, gây tổn thất về tinh thần cho gia đình người bị hại. Do đó phải xử lý bị cáo bằng hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Quá trình Đ tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công với tổ quốc; gia đình bị hại có đơn xin M trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Đ 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo, đối chiếu với các quy định pháp luật và xét đề nghị của Đại điện VKS thành phố Bắc Ninh là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa P, đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình Đ tra bị cáo và đại diện gia đình bị hại anh M và các bên có liên quan đã tự thỏa thuận giải quyết xong, không ai yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì thêm, do đó không đặt ra để giải quyết.

Đối với giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 240075245362 mang tên Trần Văn H, HĐXX xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cần tạo Đ kiện cho bị cáo để làm việc sau này nên trả lại bị cáo là phù hợp.

Xử lý vật chứng:

Đối với xe môtô BKS 99C1-248.10 , quá trình Đ tra đã xác định là tài sản của anh Đặng Ngọc Nam, sinh năm 1992, trú tại xã Lạc Vệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, giữa anh Nam và H đã giải quyết xong vấn đề dân sự nên Cơ quan Cảnh sát Đ tra Công an thành phố Bắc Ninh đã trả xe mô tô cho Nam là đúng quy định của pháp luật.

Đối với xe ô tô BKS 99A-139.84, quá trình Đ tra đã xác định là tài sản của công ty cổ phần vận tải 123 Bắc Ninh, giữa công ty và bị cáo H đã thỏa thuận giải quyết dân sự và công ty cổ phần vận tải 123 Bắc Ninh không yêu cầu H phải bồi thường gì. Do đó, cơ quan Cảnh sát Đ tra Công an thành phố Bắc Ninh đã trả xe ô tô cho công ty cổ phần vận tải 123 Bắc Ninh là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Áp dụng Điểm a, Khoản 1, Đ 260; Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2, Đ 51; Đ 65 Bộ luật hình sự. Đ 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Xử phạt Trần Văn H 15 (M lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Đông Lỗ, huyện Hiệp H1, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 240075245362 mang tên Trần Văn H, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ