vanban.org

Bản án 178/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 24/07/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Hà Văn T ối v i tội “Chống người thi hành công vụ”; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Trương Quan T1 ối v i tội “Chống người thi hành công vụ”; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị …

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan c a bị cáo Hà Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Sửa một phần bản n sơ th m về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự ối v i bị cáo Hà Văn T về tội “Cố làm hư hỏng tài sản”. Tu ên ố: Bị c o Hà Văn T phạm các tội “Chống người thi hành công vụ”, “Cố làm hư hỏng tà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hà Văn T và đồng phạm phạm tôi "Chống người thi hành công vụ", "Cố ý gây thương tích", "Hủy hoại tài sản" - phạm tội cố ý gây thương…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Hà Văn T ối v i tội “Chống người thi hành công vụ”; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Trương Quan T1 ối v i tội “Chống người thi hành công vụ”; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị …
  • Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật hình sự ể; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2019/HS-PT
Ngày: 24-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Khắc Thịnh

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Văn Phương

Ông Nguyễn Văn Vững

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thư T a n nh n d n t nh Đ ng Th p.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Tràng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 3, 17 tháng 5 và ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc th m thụ lý số: 01/2019/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 ối v i ị c o Hà Văn T và các ng phạm. Do c h ng c o c a các ị c o Hà Văn T, Nguyễn Ngọc L, Trương Quan T1, Lê Minh Nvà Võ Thái H ối v i bản n h nh sự sơ th m số: 41/2018 HS-ST ngà 20 th ng 11 năm 2018 c a T a n nh n d n huyện T.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Hà Văn T (L), sinh năm: 19XX, tại: Đ. Hộ kh u thường trú và chỗ ở: Khóm X, phường A, thị xã H, t nh Đ; Gi i tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Tr nh ộ học vấn: XX/12; Cha: Hà Văn M, sinh năm 19XX; Mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 19XX; Vợ: Thái Thị V, sinh năm 19XX; Có 02 con, l n sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 11/3/2018; Tạm giam ngày 14/3/2018. Hiện bị c o ang ị tạm giam Trại tạm giam Công an t nh Đ ng Tháp;

2. Nguyễn Ngọc L (B), sinh năm: 19XX, tại: Đ. Hộ kh u thường trú và chỗ ở: ấp XX, xã A, huyện T, t nh Đ; Gi i tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Tr nh ộ học vấn: XX/12; Cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 19XX (chết); Mẹ: Nguyễn Thị H (chết); Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 10/3/2018; Tạm giam ngày 13/3/2018; Hiện bị c o ang ị tạm giam Trại tạm giam Công an t nh Đ ng Tháp;

3. Trương Quan T1, sinh năm: 19XX, tại: Đ. Hộ kh u thường trú và chỗ ở: ấp A, xã A, thị xã H, t nh Đ; Gi i tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tr nh ộ học vấn: XX/12; Cha: Trần Văn B, sinh năm 19XX; Mẹ: Trương Thị H2, sinh năm 19XX; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 17/3/2018; Tạm giam ngày 20/3/2018. Hiện bị c o ang ị tạm giam Trại tạm giam Công an t nh Đ ng Tháp;

4. Lê Minh N (N), sinh năm: 19XX, tại: Đ. Hộ kh u thường trú và chỗ ở: Kh m S, phường A, thị xã H, t nh Đ. Gi i tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Tr nh ộ học vấn: XX/12; Cha: Lê Thanh V1, sinh năm 19XX; Mẹ: Nguyễn Thị Thu L1, sinh năm 19XX; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bỏ trốn bị truy nã ngày 24/5/2018, ến ngày 31/7/2018 bị c o ra ầu thú; Tạm giữ ngày 31/7/2018; Tạm giam ngày 03/8/2018. Hiệnbịc o ang ịtạm giam Trạitạm giam Côngant nh Đ ng Tháp;

5. Võ Thái H (S), sinh năm: 19XX, tại: Đ. Hộ kh u thường trú và chỗ ở: Ấp X, xã T, huyện H, t nh Đ. Gi i tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Tr nh ộ học vấn: XX/12; Cha: Võ Văn H3, sinh năm 19XX (chết); Mẹ: Lê Thị S, sinh năm 19XX; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bỏ trốn bị truy nã ngày 24/5/2018, ến ngày 01/8/2018 bị c o ra ầu thú; Tạm giữ ngày 01/8/2018; Tạm giam ngày 04/8/2018. Hiện bị c o ang ị tạm giam Trại tạm giam Công an t nh Đ ng Tháp;

(Các bị cáo kháng cáo ều có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T và bị cáo Nguyễn Ngọc L theo yêu cầu là Luật sư Ngô Trọng Hoàng - Công ty luật TNHH Luật Hoàng và cộng sự, thuộc Đoàn luật sư t nh Đ ng Tháp (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lê Minh N theo yêu cầu là Luật sư Ngu ễn Thanh Bền - Văn ph ng luật sư Vạn Lý, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Huỳnh Văn C, Nguyễn Minh N1, Trần Chí K, Nguyễn Duy T2, Lê Tấn T3 không kháng cáo. Những người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

Người bị hại:

1. Nguyễn Thanh S1, sinh năm: 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Khóm X, phường XX, thành phố C, t nh Đ.

2. Phạm Hoàng B1, sinh năm: 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, t nh Đ.

3. Công an t nh Đ;

Người ại diện theo y quyền: Ông Nguyễn Phú C; Chức vụ: Phó Trưởng Phòng Cảnh sát giao thông Công an t nh Đ (có mặt).

Địa ch : Số XXX, ường Lê Đại H, phường M, thành phố C, t nh Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Đoàn Văn M1, sinh năm: 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, t nh Đ.

2. Lê B nh Y, sinh năm: 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp X, xã A, thị xã H, t nh Đ.

3. Thái Thị V, sinh năm: 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Khóm X, phường A, thị xã H, t nh Đ.

4. Trần Văn B2, sinh năm: 19XX (có mặt);

5. Nguyễn Thị X, sinh năm: 19XX (có mặt);

Cùng cư trú: xã A, thị xã H, t nh Đ.

6. Trần Văn V2, sinh năm: 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Khóm X, phường XX, thành phố C, t nh Đ.

7. Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, t nh Đ.

8. Nguyễn Thị Thu L1, sinh năm: 19XX (có mặt);

9. Nguyễn Thị Ngọc T4, sinh năm: 2XXX (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: phường A, thị xã H, t nh Đ.

10. Nguyễn Thanh S, sinh năm: 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp X, xã A, huyện T, t nh Đ.

Người làm chứng:

1. Huỳnh Văn C (L), sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, thị xã H, t nh Đ (Hiện ang chấp hành án tại trại giam Cao Lãnh) (có mặt);

2. Nguyễn Minh N1 (T), sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Ấp X, xã T, huyện T, t nh Đ (Hiện ang chấp hành án tại trại giam Cao Lãnh) (có mặt);

3. Trần Chí K, sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Số XXX, Quốc lộ 30, tổ X, khóm X, phường XX, thành phố C, t nh Đ. Hiện ang chấp hành án tại trại giam Cao Lãnh) (có mặt);

4. Nguyễn Duy T2 (H), sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, t nh Đ. Hiện ang chấp hành án tại trại giam Cao Lãnh) (có mặt);

5. Lê Tấn T3 (C), sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: ấp A, xã A, thị xã H, t nh Đ. Hiện ang chấp hành án tại trại giam Cao Lãnh) (có mặt);

6. Trần Kim T5 (T), sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Khóm T, thị trấn T, huyện T, t nh Đ (có mặt);

7. Nguyễn Tấn T6, sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Kh m M, phường X, thành phố C, t nh Đ (có mặt).

8. Nguyễn Quang T7, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

9. Phạm Ngọc T8, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

10. Nguyễn Văn C1, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

11. Huỳnh Ngọc Thoại H, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: xã A, huyện T, t nh Đ.

12. Lư Thị Q, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, t nh Đ.

13. Võ Văn T9, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

14. Phạm Cao C2, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

15. Nguyễn Hữu Đ (C), sinh năm: 19XX (có mặt);

16. Nguyễn Trung H4, sinh năm: 19XX (có mặt);

Cùng nơi cư trú: xã B, huyện T, t nh Đ.

17. Nguyễn Thanh N2, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

18. Lộ Trúc L2, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

Cùng cư trú: Ấp X, xã P, huyện T, t nh Đ.

19. Lê Hoàng N3, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

Nơi cư trú: XXX, khóm X, phường X, thành phố C, t nh Đ.

20. Trần Xuân H5, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

Nơi cư trú: số XX, khóm X, phường X, thành phố C, t nh Đ.

21. Võ Văn T10, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

22. Lê Trung H6, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

23. Nguyễn H ng N4, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

24. Nguyễn Thu V3 (N), sinh năm: 19X (vắng mặt);

Cùng cư trú: Ấp X, xã P, huyện T, t nh Đ.

25. Nguyễn Đông H7, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, t nh Đ.

26. Trần Minh T11, sinh năm: 19XX (vắng mặt);

Nơi cư trú:Số XXX, Hậu Giang,phường XX, Quận X, thànhphố H.

27. Đỗ Văn H8, sinh ngày: 23/01/2XXX (vắng mặt);

Nơi cư trú: xã A, huyện T, t nh Đ.

28. Võ Văn H9, sinh năm: 19XX (có mặt);

Nơi cư trú: Ấp X, xã B, huyện C, t nh Đ.

Giám định viên: Ông Nguyễn Việt T12 - Trung Tâm pháp y t nh Đ (c mặt).

Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T:

1. Ông Trần Thanh Đ1, chức vụ: Chuyên viên Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện T, t nh Đ (có mặt ngày 26/3/2019; vắng mặt ngày 17/5/2019 và ngày 24/7/2019).

2. Ông Nguyễn Minh T13, chức vụ: Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch huyện T, t nh Đ (có mặt ngày 26/3/2019; vắng mặt ngày 17/5/2019 và ngày 24/7/2019).

3. Ông Nguyễn Thanh S3, chức vụ: Trưởng phòng Kinh tế & Hạ tầng huyện T, t nh Đ (có mặt ngày 26/3/2019; vắng mặt ngày 17/5/2019 và ngày 24/7/2019).

NỘI UNG V ÁN

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 01/3/2018, Tổ tuần tra kiểm so t giao thông ường bộ Công an t nh Đ ng Tháp g m: ông Đoàn Văn M1 (Tổ trưởng) iều khiển xe mô tô biển số 6XAX-XXXXX chở ông Lê Bình Y; ông Nguyễn Thanh S1, iều khiển xe mô tô biển số 6XAX-XXXXX chở ông Phạm Hoàng B1; ông Võ Văn H9 iều khiển xe ô tô tải, ều mặc sắc phục Công an làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên tuyến Quốc lộ 30. Đến ịa phận xã M, thành phố C thì phát hiện ối tượng Nguyễn Minh D, sinh năm 19XX, cư trú Ấp A, xã A, huyện T, iều khiển xe mô tô biển số 6XPX-XXXXX ang vận chuyển thuốc l iếu ngoại nhập lậu hư ng thị xã H i thành phố C, thì ông M1 thông báo qua bộ àm cho ông S1 ra tín hiệu dừng phương tiện, nhưng D không chấp hành mà qua ầu xe lại chạy về hư ng thị xã H. Đến khu vực ấp XX, xã P, huyện T; D ném mũ ảo hiểm và bao tải chứa thuốc l ể trên ba ga xe mô tô xuống ường nên mất thăng ằng và tự té ngã xuống lề ường bên phải hư ng thành phố C i thị xã H. Lúc này khoảng 14 giờ 30 phút, Tổ tuần tra kiểm so t giao thông ến tổ chức bảo vệ hiện trường và tổ chức ưa người bị nạn (Nguyễn Minh D) i cấp cứu thì bị cáo Hà Văn T và ng bọn ến ngăn cản lực lượng Cảnh sát giao thông, hông cho ưa D i cấp cứu.

Khi ông Nguyễn Thanh S1 ra hiệu dừng xe ô tô khách biển số 6XB - XXXXX do tài xế Trần Thanh S3 iều khiển ể ưa D i cấp cứu thì các bị cáo Hà Văn T, Trương Quan T1, Võ Thái H, Lê Minh N ến c hành vi ngăn cản không cho chở D i cấp cứu. Hà Văn T la l n “không cho ai chở người bị nạn đi cấp cứu, nếu có chết tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm, nếu xe nào chở đi thì tôi đạp xe đó” nên anh Trần Thanh S3 iều khiển xe ô tô chạ i. Tổ tuần tra tiếp tục ra hiệu dừng xe ô tô bán tải biển số 5XC - XXXXX do ông Trần Xuân H5 iều khiển ể ưa D i cấp cứu nhưng c c ị c o c th i ộ hung hãn, la l n tiếng, ngăn cản hông cho ưa D i cấp cứu. Hà Văn T, Trương Quan T1 dùng ta ập vào hông bên trái xe ô tô bán tải và nói “Không cho chở” nên ông Trần Xuân H5 sợ và iều khiển xe i. Lúc nà , ông Nguyễn Thanh S1 nói“Nếu nạn nhân có vấn đề gì thì các anh chịu trách nhiệm” thì Hà Văn T trả lời “OK” và Hà Văn T tiến ến giằng co, giật lấy nhiều bao thuốc lá hiệu Scotl do ông B1 ang giữ tại hiện trường. Sau , ông S1 ra hiệu lệnh dừng xe ô tô taxi S biển số 6XA - XXXXX do ông Nguyễn Tấn T6 iều khiển m i ưa ược D i cấp cứu. Ông M1 phân công ông S1 iều khiển xe mô tô biển số 6XAX- XXXXX chở ông B1 chạy theo hỗ trợ, còn ông M1 và ông Y ở lại tiếp tục bảo vệ hiện trường và giữ nhiều bao thuốc l iếu nhập lậu c a D vận chuyển rơi tại hiện trường, thì Hà Văn T ến dùng ch n ạp vào hông c a ông Y làm ông Y té xuống lề ường và bị cáo xông vào giật lấy thuốc lá; Võ Thái H xông ến dùng ta nh trúng vùng ầu c a ông M1 làm ông M1 té xuống bụi cây chuối bên lề ường. Thấy vậy, Lê Minh N cũng xông vào nh ông M1. Lúc này, Công an xã P ến hỗ trợ thì ông M1 chạy lên xe ô tô khách 52 chỗ (không rõ biển số) ể chạy trốn. Bị cáo Trương Quan T1 ến chặn ầu xe ô tô khách 52 chỗ và Lê Minh N lao lên xe kéo ông M1 xuống. Công an xã P tiếp tục hỗ trợ và ưa ược ông M1, ông Y về trụ sở Công an xã; còn Hà Văn T cùng c c ối tượng h c iều khiển xe uổi theo ông S1, ông B1.

- Hà Văn T iều khiển xe mô tô biển số 6XPX-XXXXX, hiệu Future Neo, màu trắng chở phía sau là Lê Tấn T3 cùng v i L, C, K, T2, K1, H, Nguyễn Minh N1, Lê Minh N, Trương Quan T1 và ối tượng Đỗ Văn H8, chạ xe uổi theo ông S1 và ông B1. Khi ến ấp B, xã Ag, huyện T, ông S1 ang dừng xe bên phải, cách lề ường khoảng 50 cm theo hư ng thị xã H i thành phố C nghe iện thoại. Lúc này, T3 ng i phía sau nói v i Hà Văn T “Mày túp đầu xe thôi” nhưng T nói “Tao đụng vào xe giao thông luôn”, nói xong T iều khiển xe mô tô ụng trúng phía sau thùng h sơ ên tr i c a xe mô tô ặc ch ng biển số 6XAX - XXXXX do ông S1 iều kiển, làm xe bị ngã về bên phải gây nứt, vỡ 02 thùng h sơ v i ích thư c thùng bên trái là 10cm x 04cm và thùng bên phải ích thư c 10cm x 05cm.

Tại biên bản ịnh giá tài sản số: 16 ngày 11/4/2018 c a Hội ng ịnh giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T. Kết luận cặp thùng h sơ ặc ch ng xe mô tô biển số 6XAX - XXXXX bị nứt, bể hông c n ảm bảo chất lượng kỹ thuật như an ầu, trị gi là 2.700.000 (Hai triệu bả trăm ngh n ng).

- Sau khi Hà Văn T iều khiển xe mô tô ụng vào xe mô tô ặc ch ng do ông S1 iều khiển làm xe ngã, ông S1 ang ư c ra khỏi xe thì Hà Văn T ến ứng ối diện dùng ta nh trúng vào mặt ông S1 02 cái, r i bị cáo tiếp tục dùng mũ ảo hiểm nh vào người ông S1 nhiều c i và dùng ch n ạp vào người ông S1 làm ông S1 té ngã xuống ất và Hà Văn T nói: “Thằng D chết r i tao đánh cho mày chết theo nó”. Nghe nói vậy, Lê Tấn T3 xông vào dùng mũ ảo hiểm nh vào lưng ông S1 01 cái; Nguyễn Ngọc L dùng ta

nh vào người ông S1 01 c i và mũ ảo hiểm nh vào người ông S1 02 c i; ng thời, L có nhiều lời lẻ thô tục chửi ích ộng c c ng phạm tham gia như “Đ…mẹ đánh chết mẹ nó đi, mày hết cửa là giao thông luôn r i, tao đánh cho mày sang luôn” và “Trong lực lượng Công an, cái màu áo vàng này nó bôi bát…người ta giết người cướp của có 3 năm ..….mà thằng L… này trong rừng trong rú ra h i đó giờ chưa từng thấy đ lậu nó rượt người ta mang tính ngộ sát, đ…má mày cuộc đời sự nghiệp của mày tới đây coi như xong r i đó, thằng L…”. Bị cáo Võ Thái H xông vào dùng ta nh vào người ông S1 02 c i và dùng ch n ạp vào người ông S1 01 cái; Nguyễn Duy T2 dùng tay nh ông S1 01 c i và dùng ch n ạp vào hông ông S1 01 cái; Trần Chí K dùng ta nh vào người ông S1 02 cái; Nguyễn Minh N1 dùng ta nh vào người ông S1 nhiều cái; Trương Quan T1 dùng ta

nh vào người ông S1 nhiều cái; Lê Minh N dùng ta , mũ ảo hiểm nh vào người ông S1 nhiều cái; Huỳnh Văn C dùng ta , mũ ảo hiểm nh vào người ông S1 02 cái và ối tượng tên C3 dùng ta nh vào người ông S1 01 cái.

Cùng lúc này, ông Phạm Hoàng B1 cũng ị các bị c o v

nh như sau: Hà Văn T dùng ta , mũ ảo hiểm nh vào người ông B1 nhiều cái; Nguyễn Ngọc L dùng mũ ảo hiểm nh vào người ông B1 01 cái; Huỳnh Văn C dùng ta nh vào người ông B1 nhiều cái; Nguyễn Minh N1 dùng tay nh vào lưng ông B1 3 cái; Lê Minh N dùng mũ ảo hiểm nh vào người ông B1 nhiều cái; Lê Tấn T3 dùng ta nh vào người ông B1 01 cái, r i T3 dùng mũ ảo hiểm nh vào ầu ông B1 nhưng hông trúng. Hậu quả làm cho ông S1 bị thương nặng ược người d n ưa i cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T và chuyển ến Bệnh viện 30 - 4 Thành phố H iều trị từ ngày 02 3 2018 ến ngày 16/3/2018 xuất viện; còn ông B1 và ông M1 iều trị tại Trạm xá Công an t nh Đ.

Tại bản kết luận gi m ịnh pháp y về thương tích số 62/TgT ngày 08/3/2018 kết luận: ông S1 bị a chấn thương phần mềm vùng th i dương, trán, gò má, cằm, trán trái, vai trái; sẹo vết thương phần mềm uôi mắt phải lành xấu ảnh hưởng ến th m mỹ; tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời iểm giám ịnh là 13%.

Tại bản kết luận gi m ịnh pháp y về thương tích số 63/TgT ngày 08/3/2018 thể hiện thương tích c a ông Phạm Hoàng B1: Sẹo xư c gò má trái lành ảnh hưởng ến th m mỹ ích thư c 06cm x 0.1cm; hai sẹo sây sát da vùng th i dương tr i ích thư c 2.5cm x 0.2cm, sẹo c nh ta tr i ích thư c 2.5cm x 01cm; vết thương phần mềm do vật tày gây nên; tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời iểm gi m ịnh là 12%.

Tại Cơ quan iều tra, bị cáo Hà Văn T thừa nhận hành vi “Chống người thi hành công vụ” và “H y hoại tài sản”; ị cáo Trương Quan T1, Lê Minh N thừa nhận hành vi “Chống người thi hành công vụ”; ị cáo Nguyễn Ngọc L thừa nhận dùng lời lẽ thô tục chửi lực lượng Cảnh sát giao thông (S1 – B1); nhưng cả 04 bị cáo ều không thừa nhận hành vi nh ông S1, ông B1 về tội “Cố g thương tích”.

Các bị cáo C, T2, K, T3, H, Nguyễn Minh N1 ều thừa nhận hành vi phạm tội “Cố g thương thích”; ng thời, bị cáo H thừa nhận hành vi “Chống người thi hành công vụ”.

* Về vật chứng:

Qu tr nh iều tra ã tạm giữ tài liệu, vật, g m:

- 01 (một) camera cài áo chuyên dùng (loại gắn trên cầu vai áo cho lực lượng Cảnh sát giao thông) nhãn hiệu DVI Technolog , màu en, ích thư c dài 9,5cm, rộng 6cm, dầy 3cm, phần quai cài c ích thư c 9,5cm x 2,5cm c a ông Đoàn Văn M1;

- 01 (một) ĩa DVD c chứa các dữ liệu iện tử ược niêm phong trong phong bì màu trắng c ng dấu giáp lai c a Phòng Kỹ thuật hình sự Công an T nh và chữ ký c a ông Hứa Văn N3 - Cán bộ Phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ;

- 01 (một) ĩa DVD hiệu Maxell, phía trên ĩa c chữ 1191/C54B có lưu trữ các dữ liệu iện tử;

- 01 (một) ĩa DVD hiệu Maxell có chứa oạn video c tên “Reccived-2095188414050477.mp4 dung lượng 10,1MB, thời lượng 2 phút” c a ông Trần Minh T11;

- 01 (một) USB có chứa oạn video thời lượng 52 giây c a ông Phạm Cao C2 (đã niêm phong);

- 01 (một) iện thoại di ộng hiệu OPPO màu vàng, số phiên bản R7plusf EX-11-160922 gắn số thuê ao di ộng 01674787470 c a bị cáo Trương Quan T1 (đã qua sử dụng);

- 01 (một) mũ ảo hiểm màu xanh (loại mũ sơn) phần kết mũ màu en; 01 (một) áo thun màu trắng, th n trư c có chữ “Waiting màu ỏ”; 01 (một) quần sọt jean màu xanh, hiệu TP Best jeans style c a bị cáo C (tất cả đã qua sử dụng);

- 01 (một) iện thoại di ộng hiệu Nokia, model 105, Type: RM-908 (không gắn sim); 01 (một) o sơ mi ngắn tay sọc ca rô màu trắng, en và 01 (một) quần jean sọt màu xanh c a bị cáo Nguyễn Minh N1 (tất cả đã qua sử dụng);

- 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tr n màu en iểu áo (kiểu áo nam), hiệu Wonshilong và 01 (một) quần jean màu xanh, hiệu LEI SURE c a bị cáo T2;

- 01 (một) o sơ mi dài ta , hiệu Designed me 50, màu en, sọc ca rô màu trắng và 01 quần jean dài hiệu C&D NEW, màu en, mặt trư c hai ống quần và hai túi sau có nhiều hoa văn c a bị cáo T3 (tất cả đã qua sử dụng);

- 01 (một) áo thun kiểu nam, màu ỏ, ên tr i th n o trư c có chữ Ari stino Italy và 01 (một) quần sọt a i, màu ỏ (kiểu nam) c a Đỗ Văn H8;

- 01 (một) mũ ảo hiểm màu xanh, nhãn hiệu Nike; 01 (một) chiếc dép nhựa màu xanh; 01 (một) nón kết bằng vải màu en, nhãn hiệu Versace; 01 (một) miếng gỗ dài 60cm, ngang 10cm; 01 mỏ mũ ảo hiểm; 01 (một) ng h eo ta hiệu DW mặt màu vàng, dây da bị ứt và thu lượm nhiều dấu vết nghi là máu.

Đối v i những vật không phải là vật chứng c a vụ án, không liên quan ến nội dung vụ án: (01 (một) iện thoại di ộng hiệu Nokia, model 105, Type: RM-908 không gắn sim c a Nguyễn Minh N1; 01 (một) áo thun kiểu nam, màu ỏ, bên trái thân o trư c có chữ Ari stino Italy và 01 (một) quần sọt a i, màu ỏ (kiểu nam) c a Đỗ Văn H8. Qu tr nh iều tra Cơ quan Cảnh s t iều tra Công an huyện T ã trao trả lại cho ch sở hữu xong.

Đối v i xe mô tô biển số 6XP1 - XXXXX, hiệu Future neo, màu trắng và xe mô tô biển số 6XNX - XXXXX, Cơ quan Cảnh s t iều tra Công an huyện T thu thập ược tài liệu, chứng cứ chứng minh do bị cáo Hà Văn T và bị cáo Nguyễn Ngọc L sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 01 3 2018, nhưng hi hám xét không thu giữ ược nên ã ra thông o tru t m ối v i 02 (hai) xe mô tô nêu trên.

Đối v i các loại xe mô tô do các bị cáo C, K, Trương Quan T1 và ông Nguyễn Quốc K1 cùng ối tượng tên C3 sử dụng như nêu trên, do hông rõ ặc iểm nên Cơ quan Cảnh s t iều tra Công an huyện T không thu giữ ược ể xử l theo qu ịnh c a pháp luật.

Đối v i quần, o và mũ ảo hiểm c a các bị cáo Hà Văn T, L, Trương Quan T1, K, Lê Minh N, H; mũ ảo hiểm c a bị cáo T3 và Nguyễn Minh N1 sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 01/3/2018, các bị c o ể tại gia nh và sử dụng khi bỏ trốn, hông x c ịnh ược ịa iểm cụ thể nên Cơ quan Cảnh s t iều tra Công an huyện T không thu giữ ược ể xử lý theo qu ịnh c a pháp luật.

Đối v i 01 (một) mũ ảo hiểm màu xanh, nhãn hiệu Nike; 01 (một) chiếc dép nhựa màu xanh; 01 (một) nón kết bằng vải màu en, nhãn hiệu Versace; 01 (một) miếng gỗ dài 60cm, ngang 10cm; 01 mỏ mũ ảo hiểm; 01 (một) ng h eo ta hiệu DW mặt màu vàng; dây da bị ứt và thu lượm nhiều dấu vết nghi là m u ược thu giữ tại hiện trường vụ án; hiện na Cơ quan Cảnh s t iều tra Công an huyện T chưa c căn cứ chứng minh, nên ã tách h sơ tiếp tục x c minh iều tra xử lý sau.

Đối v i c c ối tượng Đỗ Văn H8, C3, K2. Qu tr nh iều tra chưa x c ịnh ược nhân thân lai lịch nên Cơ quan iều tra ã t ch h sơ ể tiếp tục iều tra, làm rõ xử lý sau.

Đối v i hành vi Lê Minh N, Võ Thái H nh ông Đoàn Văn M1 gây thương tích v i tỷ lệ 02% tại hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 01/3/2018 tại khu vực ấp X, xã P, huyện T. Cơ quan Cảnh s t iều tra Công an huyện T ã an hành Công văn số: 135 CSĐT-ĐTTH ngà 17 7 2018 chuyển h sơ ến Cơ quan Cảnh s t iều tra Công an huyện T1 tiếp tục iều tra xử lý theo th m quyền.

Các ông bà Trần Văn B2, Trần Văn V2, Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị Thu L1, Nguyễn Thị Ngọc T4, Thái Thị V và Nguyễn Thanh S2 không có yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền ã nộp b i thường thiệt hại khắc phục hậu quả.

*Về trách nhiệm dân sự:

- Ông Nguyễn Thanh S1 yêu cầu các bị c o liên i b i thường chi phí iều trị thương tích, ngà công lao ộng cho người theo chăm s c nuôi dưỡng ông, chi phí i lại, tiền ăn uống và tổn thất tinh thần g m (chi phí các khoảng 14.232.000 + tổn thất tinh thần tương ứng 20 th ng lương cơ ản 27.800.000 ) tổng cộng 42.032.000 . C c ị c o ã t c ộng gia nh nộp khắc phục hậu quả cho ông S1, tổng cộng là 27.000.000 ; hiện nay ông S1 yêu cầu các bị c o liên i b i thường số tiền còn lại 15.032.000 (Mười lăm triệu hông trăm a mươi hai ngh n ng).

- Ông Phạm Hoàng B1 yêu cầu các bị c o liên i b i thường tiền chi phí iều trị thương tích, ngà công lao ộng cho người chăm s c nuôi dưỡng ông, chi phí i lại, tiền ăn uống và tổn thất tinh thần g m (chi phí các khoảng 3.320.000 + tổn thất tinh thần tương ứng 12 th ng lương cơ ản 16.680.000 ) tổng cộng 20.000.000 (Hai mươi triệu ng).

- Ông Lê Bình Y và ông Đoàn Văn M1 không yêu cầu b i thường thiệt hại, nhưng êu cầu xử lý hình sự theo qu ịnh.

- Ông Nguyễn Phú C yêu cầu bị cáo Hà Văn T b i thường thiệt hại 02 thùng h sơ xe mô tô ặc ch ng biển số 6XAX - XXXXX là 2.700.000 (Hai triệu bả trăm ngh n ng).

Tại ản n số 41/2018/HS-ST ngà 20/11/2018 c a T a n nh n d n huyện T ã qu ết ịnh:

1. Tu ên ố ị c o Hà Văn T phạm các tội “Chống người thi hành công vụ”, “Cố làm hư hỏng tài sản” và “Cố g thương tích”;

- Áp dụng hoản 1 Điều 330; iểm s hoản 1 Điều 51; hoản 1 Điều 17, Điều 58 Bộ luật h nh sự năm 2015; xử phạt ị c o Hà Văn T 01 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

- Áp dụng iểm e khoản 2 Điều 178; iểm b khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hà Văn T 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Áp dụng iểm d khoản 3 Điều 134; khoản 1 Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hà Văn T 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật h nh sự năm 2015, tổng hợp h nh phạt ối v i ị c o Hà Văn T là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù t nh từ ngày 11/3/2018.

2. Tu ên ố ị c o Ngu ễn Ngọc L phạm tội “Cố g thương tích”;

Áp dụng iểm d hoản 3 Điều 134; iểm hoản 1 Điều 51; hoản 1 Điều 17, Điều 58 Bộ luật h nh sự năm 2015; xử phạt ị c o Ngu ễn Ngọc L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngà 10 3 2018.

3. Tu ên ố ị c o Trương Quan T1 phạm các tội “Chống người thi hành công vụ”, “Cố g thương tích”;

Áp dụng hoản 1 Điều 330; iểm s hoản 1 Điều 51; hoản 1 Điều 17, Điều 58 Bộ luật h nh sự năm 2015; xử phạt ị c o Trương Quan T1 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng iểm d khoản 3 Điều 134; iểm b khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trương Quan T1 05 năm tù về tội “Cố g thương tích”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật h nh sự năm 2015, tổng hợp h nh phạt ối v i ị c o Trương Quan T1 là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngà 17 3 2018.

4. Tu ên ố ị c o Lê Minh N phạm các tội “Chống người thi hành công vụ”, “Cố g thương tích”;

Áp dụng khoản 1 Điều 330; iểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lê Minh N 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng iểm d khoản 3 Điều 134; iểm b khoản 1, 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; khoản 1 Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lê Minh N 04 năm tù về tội “Cố g thương tích”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt ối v i bị cáo Lê Minh N là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2018.

5. Tu ên ố ị c o Võ Thái H phạm các tội “Chống người thi hành công vụ”, “Cố g thương tích”;

Áp dụng khoản 1 Điều 330; iểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Võ Thái H 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”;

Áp dụng iểm d khoản 3 Điều 134; iểm b, s, t khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Võ Thái H 02 năm 09 th ng tù về tội “Cố g thương tích”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt ối v i bị cáo Võ Thái H là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2018.

Ngoài ra, n sơ th m c n tu ên phạt c c ị c o Huỳnh Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; ị c o Ngu ễn Minh N1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù; ị c o Lê Tấn T3 02 (hai) năm 03 (ba) th ng tù; ị c o Ngu ễn Du T2 02 (hai) năm 06 (s u) th ng tù và ị c o Trần Chí K 02 (hai) năm tù cùng về tội “Cố g thương tích”; về tr ch nhiệm d n sự, xử l vật chứng, n phí và qu ền h ng c o theo luật ịnh.

Ngà 26 th ng 11 năm 2018, ị c o Hà Văn T c ơn h ng c o kêu oan ối v i tội “Cố g thương tích” và “Cố làm hư hỏng tài sản”. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt ối v i tội “Chống người thi hành công vụ”.

Ngà 21 th ng 12 năm 2018, ị cáo Hà Văn T c ơn h ng c o ổ sung v i nội dung yêu cầu gi m ịnh lại tỷ lệ thương tật c a hai bị hại S1 và B1; yêu cầu ịnh giá lại hai thùng h sơ xe mô tô ặc ch ng; yêu cầu triệu tập những người làm chứng ể ối chất v i bị cáo tại phiên tòa; yêu cầu xem xét trường hợp người làm chứng Đỗ Văn H8, Nguyễn Trung H4 và lời khai c a các bị hại có sự khác biệt ở giai oạn iều tra và tại phiên t a sơ th m.

Ngà 26 th ng 11 năm 2018, ị cáo Nguyễn Ngọc L c ơn h ng c o v i nội dung kêu oan.

Ngà 23 th ng 11 năm 2018, ị cáo Trương Quan T1 c ơn h ng c o êu oan ối v i tội “Cố g thương tích”. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt ối v i tội “Chống người thi hành công vụ”.

Ngà 23 th ng 11 năm 2018, ị cáo Lê Minh Nc ơn h ng c o kêu oan ối v i tội “Cố g thương tích”.

Ngà 23 th ng 11 năm 2018, ị cáo Võ Thái H c ơn h ng c o v i nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên t a, ại diện Viện iểm s t nh n d n t nh Đ ng Tháp ã nêu ra những chứng cứ và luận cứ cũng như lời khai c a người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng v i các chứng cứ khác thu thập ược ể chứng minh hành vi c a các bị cáo là có tội; ã phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ ối v i các bị cáo và ề nghị Hội ng xét xử áp dụng Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a các bị cáo Hà Văn T, Trương Quan T1 về tội “Chống người thi hành công vụ”; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a Võ Thái H; Không chấp nhận kháng cáo kêu oan c a bị cáo Hà Văn T về các tội “Cố làm hư hỏng tài sản” và tội “Cố ý gây thương tích”; Không chấp nhận kháng cáo kêu oan c a các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Trương Quan T1 và Lê Minh N về tội “Cố ý gây thương tích”. Giữ ngu ên phần quyết ịnh c a bản án hình sự sơ th m. Đề nghị Hội ng xét xử áp dụng iểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự sửa một phần bản n sơ th m, tuyên áp dụng iểm c khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự ể quyết ịnh mức hình phạt cho bị cáo Hà Văn T và giảm mức hình phạt mà cấp sơ th m ã tu ên ối v i bị cáo từ 01 ến 03 tháng về tội “Cố làm hư hỏng tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, tại phiên t a ại diện bị hại không yêu cầu bị cáo Hà Văn T b i thường nên ề nghị Hội ng xét xử sửa n sơ th m về phần này và tuyên trả lại số tiền 2.700.000 ng mà chị Thái Thị V ã nộp. Đối v i Đỗ Văn H8, ề nghị Hội ng xét xử kiến nghị c c cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ th m tiếp tục iều tra xác minh làm rõ nếu c căn cứ thì xử lý ối tượng Đỗ Văn H8 theo qu ịnh c a pháp luật.

Luật sư ào chữa cho bị cáo Lê Minh N phát biểu quan iểm cho rằng qu tr nh iều tra, truy tố và xét xử sơ th m có những vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, cụ thể: Không thu h i các vật chứng liên quan ến vụ án bao g m nón bảo hiểm, cây gỗ là công cụ ể x c ịnh ai là người g ra thương tích cho nạn nhân. Việc gi m ịnh ph p hông ầ , ch x c ịnh thương tích do vật tày gây ra nhưng hông x c ịnh thuộc loại vật tày nào. Tại phiên tòa phúc th m, gi m ịnh viên m i x c ịnh là vật tày có cạnh Điều này hoàn toàn khác v i kết luận iều tra, cáo trạng và bản n sơ th m kết luận bị hại bị nh ằng nón bảo hiểm và bằng ta . Án sơ th m x c ịnh 10 bị cáo gây thương tích cho 02 người bị hại. Tu nhiên, qu tr nh iều tra và kết quả th m vấn c a Hội ng xét xử phúc th m cho thấy không phải tất cả 10 bị c o nh cả hai người bị hại mà có bị c o nh 01 người, có bị c o nh hai người, có bị c o hông nh, c ị cáo không có mặt ở hiện trường vẫn bị quy buộc là việc iều tra chưa ầ

, chưa ph n tích ược trách nhiệm hình sự c a từng bị c o ể x c ịnh úng tội danh và khung hình phạt áp dụng ể tuyên phạt phù hợp v i từng bị cáo khi vụ án không có tổ chức.

Về nội dung, n sơ th m buộc bị cáo N dùng tay, nón bảo hiểm nh 02 nạn nh n nhưng hông ch ra ược bị c o nh ao nhiêu c i ằng tay, bao nhiêu cái bằng nón bảo hiểm tương ứng v i các vết thương nào trên cơ thể nạn nhân. Các lời khai c a hai bị hại ều hông x c ịnh ược là Lê Minh N có mặt tại hiện trường và nh c c ị hại. Trong 10 bị cáo không ai thấy mặt bị cáo N tại hiện trường. Bị cáo N ã tự chứng minh ược mình ngoại phạm qua lời khai c a những người làm chứng là cán bộ xã P. L, H10 ã x c ịnh tại phiên tòa phúc th m ối v i thời gian xãy ra vụ án bị cáo N không thể có mặt tại hiện trường ể g thương tích cho hai ị hại vì cùng thời gian bị cáo ang ở xã P.

V i những căn cứ nêu trên, ề nghị Hội ng xét xử h y một phần bản n sơ th m về tội “Cố g thương tích” ể iều tra lại. Trường hợp Hội ng xét xử không chấp nhận, luật sư ề nghị Hội ng xét xử tuyên bị cáo không phạm tội này, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

Luật sư ào chữa cho bị cáo Hà Văn T và Nguyễn Ngọc L phát biểu quan iểm:

Về tố tụng: Cơ quan iều tra và Tòa án cấp sơ th m ã vi phạm nghiêm trọng th tục tố tụng. Tòa án cấp sơ th m không triệu tập người làm chứng ể ối chất lời khai c a họ v i các bị cáo dù chúng tôi ã êu cầu nhiều lần. Người làm chứng nhận dạng Hà Văn T c ội n n hi ến hiện trường ấp 3 xã A trong khi bị c o hông c ội nón. Ở tội danh “Cố làm hư hỏng tài sản”, 02 thùng h sơ xe ặc ch ng là vật chứng ã c sự t c ộng, có vết hàn trong khi phía bị hại x c ịnh trư c khi xảy ra vụ án 02 thùng này còn nguyên vẹn. Cơ quan iều tra không tiến hành lập biên bản hiện trường ể x c ịnh xe mô tô ậu cách lề bao xa, bị ngã ên nào, c xe u t hông …

Bị cáo Nguyễn Ngọc L yêu cầu cho trình chiếu oạn camera 52s ể xem các bị c o c

nh hai người bị hại hay không. Tuy yêu cầu nà ược chấp nhận nhưng việc trình chiếu chưa thể hiện hết nội dung c a oạn camera.

Về nội dung, Bị cáo Hà Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tội “Chống người thi hành công vụ”, ị cáo phạm tội lần ầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia nh c công v i Cách mạng, ông nội c a bị cáo là liệt sĩ. Đề nghị Hội ng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo này c a bị cáo.

Về tội “Cố làm hư hỏng tài sản”, cấp sơ th m truy tố và xét xử bị cáo Trường nhưng chưa chứng minh ược hành vi cố ý c a bị cáo; lời khai c a Lê Tấn T3 bất nhất; còn về hậu quả, Hội ng ịnh giá kết luận giá trị bị thiệt hại 2.700.000 ng là hông úng v theo Thông tư số 55 qu ịnh trường hợp này phải x c ịnh giá trị tài sản thực tế và trừ khấu hao 15%.

Về tội “Cố g thương tích”,

là vụ án không ng phạm vì không có sự phân công, bàn bạc và chịu sự iều khiển c a người nào. Cho nên cơ quan tiến hành tố tụng phải cá thể hóa từng hành vi c a từng bị cáo thì m i chính x c. Đề nghị không xem lời khai c a những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa vì chưa ược ối chất. Người bị hại hông x c ịnh ược bị ai nh và nh ằng vật gì trong khi tỷ lệ thương tật c a bị hại B1 do vật tày có cạnh gây ra. Như vậy, vết thương nào c a bị hại là do các bị cáo Hà Văn T và L g ra trong hi n sơ th m cho rằng T và L nh ị hại bằng tay và nón bảo hiểm.

Án sơ th m quy buộc bị cáo Nguyễn Ngọc L nh ị hại S1 bằng tay, nh ị hại B1 bằng nón bảo hiểm và có hành vi chửi hai người này. Chúng tôi thấy rằng L hông nh ai mà ch có chửi và việc bị cáo chửi không mang tính ích ộng hay xúi giục ai nh c c ị hại. Các lời khai c a những người làm chứng như Đỗ Văn H8, Đ, T8 về L ều bất nhất, không khách quan, trung thực.

V i những luận cứ nêu trên, ề nghị Hội ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hà Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo qu ịnh. Về tội “Cố làm hư hỏng tài sản”, xét về hành vi thì bị cáo T không có cố ý, về chứng cứ buộc tội th chưa căn cứ khách quan nên không cấu thành tội; nên ề nghị Hội ng xét xử tuyên bị cáo Hà Văn T không phạm tội. Về tội “Cố g thương tích”, cả hai bị cáo Hà Văn T và Nguyễn Ngọc L ều hông c hành vi nh người, nên không cấu thành tội; về chứng cứ buộc tội chưa thể hiện ầ

, lời khai còn nhiều mâu thuẫn, hông căn cứ ể buộc tội hai bị cáo. Do , ề nghị Hội ng xét xử tuyên bị cáo Hà Văn T và Nguyễn Ngọc L không phạm tội “Cố g thương tích”.

Trong phần tranh luận, bị cáo Hà Văn T thống nhất quan iểm v i lời bào chữa c a vị luật sư. Bị cáo có ý kiến bổ sung là cấp sơ th m ã chu ển tư cách tham gia tố tụng c a Đỗ Văn H8 từ ng phạm sang người làm chứng là hông úng. Cơ quan iều tra ã dụ cung bị cáo L, sửa lời khai c a bị cáo gây bất lợi cho bị cáo. Trần Chí K nói sẽ hãm hại bị cáo nên lời khai c a K không khách quan. Bị c o ã 02 lần ngăn cản ng phạm hông cho nh ị hại; bị cáo không có trốn khỏi ịa phương và ã thừa nhận hành vi chống người thi hành công vụ nhưng cấp sơ th m cho rằng bị cáo chối tội. Xin Hội ng xét xử xem xét cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Ngọc L thống nhất quan iểm v i lời bào chữa c a vị luật sư. Bị cáo có ý kiến bổ sung là Viện kiểm s t ã g n ghép ị cáo một cách vô c . Bị cáo có chửi nhưng hông ích ộng xúi giục ai thay vì ch là vi phạm hành chính, Viện kiểm s t ã h nh sự hóa là oan cho bị cáo. Viện kiểm sát nói vụ n nà dư luận quan tâm nên xử nặng các bị c o, là nhận ịnh ch quan. Viện kiểm sát buộc bị cáo thừa nhận có nộp 2.000.000 ng và ưa ra hai nhận ịnh trong cùng một vụ n là hông úng. Tòa án cấp sơ th m không cho bị cáo tham gia tranh luận là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Người làm chứng Nguyễn Quang T7 không có sửa anten mà nếu có thì v i khoảng cách 115m, ông T7 không nhìn thấ rõ ược sự việc. Người làm chứng Phạm Ngọc T8 bị tâm thần nên lời khai không có giá trị về mặt pháp lý và bị cáo rất muốn ối chất v i những người này. Hôm xảy ra sự việc có mặt H8 và C2, C2 có cầm cây, bị cáo cho rằng H8 và C2 ã g thương tích cho hai ị hại. Tòa sơ th m cho rằng bị c o nh hai ị hại trong khi hai bị hại khai không nhất quán, lúc thấy lúc không, ở sơ th m khai bị c o hông c nh, lên phúc th m thì khai bị c o c nh trong khi anh S1 nói còn sai tên bị c o. T a sơ th m cho rằng bị cáo lẫn trốn, bị cáo không phạm tội thì việc gì phải trốn, như vậy là vu khống bị cáo. Bị hại B1 khai bị cho ng nhưng lại iều khiển xe từ xã P về thành phố C là chưa phù hợp. Bị cáo hoạt ộng ộc lập, bị cáo không phải là ại ca nên không thể ra lệnh hay sai khiến, xúi giục, ích ộng ược ai, việc tuyên buộc bị c o ng phạm là hông úng, oan cho ị cáo. Xin Hội ng xét xử xem xét cho bị cáo.

Bị cáo Lê Minh N thống nhất quan iểm v i lời bào chữa c a vị luật sư, ị cáo không có ý kiến tranh luận hay bào chữa bổ sung.

Bị c o Trương Quan T1 không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Võ Tháo H không tranh luận, ch xin Hội ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại, người ại diện theo y quyền c a bị hại không có ý kiến tranh luận.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN

[1] Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào c c tài liệu trong h sơ vụ n ã ược tranh tụng tại phiên t a, Hội ng xét xử nhận ịnh như sau: Trong hạn luật ịnh các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Ngọc L, Trương Quan T1, Lê Minh N và Võ Thái H c ơn h ng c o nên ược ưa ra xét xử theo trình tự phúc th m.

[2] Tại phiên tòa phúc th m, các bị cáo Hà Văn T, Trương Quan T1 ã thừa nhận toàn bộ hành vi chống người thi hành công vụ. Cả hai bị cáo ều khẳng ịnh n sơ th m xét xử các bị cáo về hành vi nà là úng, hông oan sai gì cho các bị cáo, các bị cáo ch xin cấp phúc th m xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đ ng thời bị cáo Hà Văn T kháng cáo cho rằng bị cáo không phạm tội “Cố làm hư hỏng tài sản” và “Cố g thương tích”.

Các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Trương Quan T1 và Lê Minh N ều kháng cáo cho rằng các bị cáo không phạm tội “Cố g thương tích”.

Riêng bị cáo Võ Thái H ã thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tòa án cấp sơ th m ã căn cứ vào lời khai c a các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Ngọc L, Trương Quan T1, Lê Minh N và Võ Thái H và các bị cáo khác không có kháng cáo trong vụ án ở giai oạn iều tra, truy tố; lời khai c a bị hại, lời khai c a người làm chứng ã chứng minh ược hành vi c a các bị c o như sau: Bị cáo Hà Văn T ã c hành vi iều khiển xe mô tô chở Lê Tấn T3 chạ uổi theo xe mô tô ặc ch ng c a lực lượng cảnh sát giao thông do chiến sĩ Ngu ễn Thanh S1 iều khiển chạy theo hỗ trợ xe chở nạn nh n i cấp cứu. Khi phát hiện thấy S1 dựng xe trong lề ể nghe iện thoại thì bị cáo cố t nh iều khiển xe mô tô ụng vào xe mô tô ặc ch ng. Điều này phù hợp v i lời khai c a Lê Tấn T3 là người i chung xe mô tô do Hà Văn T iều khiển chạy từ nơi D té ến chỗ ụng vào xe c a Cảnh sát giao thông. T3 n i “Mà túp ầu xe thôi”, T n i “Tao ụng vào xe giao thông luôn”, sau T iều khiển xe ụng vào xe Cảnh sát giao thông. Hậu quả ã làm hư hỏng thùng ựng h sơ mà theo ết luận c a Hội ng ịnh giá trong tố tụng hình sự huyện T tại kết luận số 16 ngày 11/4/2018: cặp thùng h sơ ặc ch ng trên xe mô tô bị nứt, bể hông c n ảm bảo chất lượng kỹ thuật như an ầu, trị giá 2.700.000 . Kết luận nà ã ược thông báo cho bị cáo Hà Văn T ngày 25/5/2018 bằng biên bản giao nhận thông báo kết luận ịnh giá, bị c o ã nhận và không có ý kiến ng thời ký tên vào biên bản giao nhận. Hành vi c a bị c o ã làm hư hỏng cặp thùng ựng h sơ c a xe ặc ch ng,

là một bộ phận c a chiếc xe, là vật ng bộ i èm theo xe. Như vậy, thiệt hại về tài sản từ hành vi c a bị cáo gây ra là có thật. Hơn nữa, bị cáo biết rõ các anh S1, B1 là lực lượng Cảnh s t giao thông ang thực hiện nhiệm vụ nhưng ã cố ý iều khiển xe mô tô ụng thẳng vào xe mô tô ặc ch ng r i c hành ộng tấn công g thương tích, hành vi nà ã g ảnh hưởng xấu ến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở ịa phương. Hành vi c a bị c o ã yếu tố cấu thành tội “Cố làm hư hỏng tài sản” qu ịnh tại iểm c khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Sau hi ụng vào xe mô tô ặc ch ng g hư hỏng thùng ựng h sơ, ị cáo Hà Văn T liền thực hiện hành vi tấn công hai người i trên xe ặc ch ng là Nguyễn Thanh S1, Phạm Hoàng B1 ang mặc quân phục Công an làm nhiệm vụ. Căn cứ vào Biên bản khám nghiệm hiện trường lập lúc 16 giờ 30 ngày 01/3/2018 tại ấp X, xã A, huyện T. Lời khai c a Lê Tấn T3: Trường dùng ta ấm vào mặt S1 hai ba cái. Lúc T nh S1, T c n i “Thằng D mèo chết r i tao nh cho mầy chết theo n ”. Trần Chí K khai: Xác nhận có chạy theo ến oạn lộ lỡ thuộc ấp X, xã A, huyện T, thấ xe ặc ch ng c a Cảnh sát giao thông ngã cặp lề, S1 ứng trư c ầu xe thì T cùng v i những người h c nh S1. Khi ang nh th ản tên c a S1 rơi xuống ất nên K lượm lên và ọc cho mọi người cùng nghe tên c a S1. Một lúc sau nghe L n i “Thôi ược r i”; Lời khai c a Huỳnh Văn C: C khẳng ịnh vào ngày 01/3/2018, tại ấp X, xã A, huyện T có gặp NHL (Hà Văn T). Tại

, C thấy T dùng tay nh S1 cảnh s t giao thông g thương tích nhưng hông x c ịnh ược nh trúng u. Lời khai c a Nguyễn Trung H4 x c ịnh Nu (Hà Văn T) và nh m lính Nu nh S1 khoảng 05 phút thì nhóm lính Nu tách ra làm hai, một nhóm 03 – 04 người rượt nh anh Cảnh s t cơ ộng, còn lại H, TL th nh anh S1. Nguyễn Hữu Đ x c ịnh: L ứng trên lộ chữi, ích ộng nhóm thanh niên nh chết mẹ n . Sau , nh m thanh niên t ch ra làm hai, một nhóm nh anh S1, một nh m rượt nh anh Cảnh s t cơ ộng thì lúc này L vẫn ứng chữi và ích ộng nh m thanh niên nh S1. Từ lời khai c a T3. K, C cùng lời khai các bị hại, những người làm chứng cùng các tài liệu khác thu thập ược thể hiện: Bị cáo Hà Văn T vừa tấn công bằng tay, vừa có lời nói g ích ộng cho những người ng phạm cùng tấn công hai chiến sĩ công an S1 và B1. Hậu quả S1 bị tổn thương cơ thể theo kết luận gi m ịnh pháp y là 13%; B1 bị tổn thương cơ thể theo kết luận gi m ịnh pháp y là 12%. Tuy nhiên, tại biên bản xem xét thân thể cũng như Qu ết ịnh trưng cầu gi m ịnh c a cơ quan iều tra ối v i bị hại B1 không thể hiện vết thương ở th i dương nhưng ản kết luận gi m ịnh pháp y về thương tích số 63/TgT ngày 08/3/2018 thể hiện thương tích c a ông B1 c “sẹo s s t da vùng th i dương tr i ích thư c 2.5cm x 0.2cm”. Trong quá trình thu thập thêm chứng cứ ở giai oạn xét xử phúc th m, T a n ã ề nghị Trung tâm pháp y t nh Đ giải thích kết luận gi m ịnh pháp y về thương tích số 63/TgT ngày 08/3/2018 ối v i bị hại Phạm Hoàng B1. Tại Công văn phúc p số 104/TTPY ngày 07/5/2019 c a Trung tâm pháp y t nh Đ x c ịnh: Sẹo xư t da gò má trái lành ảnh hưởng ến th m mỹ (tỷ lệ thương tật: 11%); Hai sẹo sây sát da vùng thái dương tr i, c nh ta tr i sẹo lành (tỷ lệ thương tật: 01%). Nếu bỏ vết thương sẹo s s t da vùng th i dương tr i th tỷ lệ nhóm sẹo phần mềm số lượng ít ích thư c nhỏ tỷ lệ thương tật hông tha ổi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể c a ương sự (Phạm Hoàng B1) tại thời iểm gi m ịnh là: 12%.

Hành vi trực tiếp tấn công và ích ộng người khác cùng tấn công làm tổn thương cơ thể hai người mà mỗi người t lệ tổn thương cơ thể trên 11%, trong hi hai người bị hại ang thi hành công vụ, ã yếu tố cấu thành tội “Cố g thương tích” ược qu ịnh tại iểm d khoản 3 Điều 134 BLHS. (G thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe c a hai người trở lên mà t lệ tổn thương cơ thể c a mỗi người từ 11% ến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp qu ịnh tại c c iểm từ iểm a ến iểm k khoản 1 Điều này).

Đối v i bị cáo Nguyễn Ngọc L, bị cáo kháng cáo cho rằng Hội ng xét xử cấp sơ th m xét xử oan bị cáo vì bị cáo không có mặt ở hiện trường nơi Hà Văn T tấn công hai chiến sỹ công an, bị c o hông g thương tích cho ai. Tuy nhiên, qua kết quả iều tra, trên cơ sở các lời khai, nhận dạng c a Trần Chí K, Nguyễn Quan T7 x c ịnh L nói “Thôi rút”, “ nh cho mà sang luôn”; lời khai, nhận dạng c a Nguyễn Văn C1, Phạm Cao C2, Võ Văn T9, Nguyễn Hữu Đ, Phạm Ngọc T8 cùng các tài liệu chứng cứ ược thu thập úng qu ịnh c a Bộ luật tố tụng hình sự ã x c ịnh bị cáo Nguyễn Ngọc L có mặt tại hiện trường vụ Cố g thương tích tại ấp X, xã A, huyện T và có hành vi dùng nhiều lời lẽ l n tiếng mang tính công kích hai chiến sỹ công an, từ g ích ộng c c ng phạm khác tham gia tấn công hai chiến sỹ công an làm cho các bị hại S1, B1 ều bị tổn thương cơ thể. Bị cáo giữ vai trò giúp sức tích cực trong việc tấn công hai chiến sĩ công an S1 và B1 khi hai người này bị Hà Văn T tấn công g thương tích. Hành vi c a bị c o là ng phạm giúp sức v i bị cáo T, xúi giục và ích ộng c c ng phạm khác nên phải chịu trách nhiệm chung cùng c c ng phạm.

Bị cáo Trương Quan T1 giữ vai trò giúp sức tích cực cho bị cáo Hà Văn T tấn công và làm cho hai bị hại bị thương tích. Trong , ị cáo trực tiếp thực hiện hành vi tấn công bị hại Nguyễn Thanh S1 bằng tay nhiều cái. Bị cáo kháng cáo kêu oan cho rằng không thực hiện hành vi phạm tội Cố ý gây thương tích nhưng ết quả iều tra và th m vấn tại phiên t a sơ th m cũng như các lời hai, ối chất c a các bị hại Nguyễn Thanh S1 và Phạm Hoàng B1; Trần Chí K, Nguyễn Minh N1, Đỗ Văn H8, Võ Văn T9, Nguyễn Quang T7, các tài liệu chứng cứ nà ược thu thập úng qu ịnh c a Bộ luật tố tụng hình sự. Trên cơ sở ph n tích ã x c ịnh bị cáo Trương Quan T1 có mặt tại ấp X, xã A, huyện T vào ngày 01/3/2018 và thực hiện hành vi tấn công hai người bị hại cùng v i Hà Văn T, Nguyễn Ngọc L và các bị cáo khác cho nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự v i vai tr là người giúp sức về tội Cố ý g thương tích theo iểm d khoản 3 Điều 134 BLHS.

Đối v i bị cáo Lê Minh N, bị cáo cho rằng bị cáo không có mặt tại ấp X, xã A, huyện T vào ngày 01/3/2018 trong thời iểm bị cáo Hà Văn T và các ng phạm thực hiện hành vi cố g thương tích ối v i bị hại S1, B1. Tuy nhiên, các bị hại S1, B1 xác nhận bị cáo N có mặt tại hiện trường ấp X, xã A. Đ ng thời, lời hai và ối chất c a Trần Chí K, Lê Tấn T3 ều xác nhận bị cáo N có mặt tại ấp X, xã A, huyện T và có thực hiện hành vi tấn công bị hại g thương tích. C c chứng cứ nà ược thu thập úng qu ịnh c a pháp luật, do c

cơ sở kết luận bị cáo Lê Minh N c hành vi ng phạm v i vai trò giúp sức thực hiện hành vi phạm tội “Cố g thương tích” cho nên phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối v i bị cáo Võ Thái H, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội c a mình. Khi ông Nguyễn Thanh S1 ra hiệu dừng xe ô tô khách biển số 6XB - XXXXX ể ưa D i cấp cứu thì bị cáo cùng các bị cáo Hà Văn T, Trương Quan T1, Lê Minh N ến c hành vi ngăn cản không cho chở D i cấp cứu. Sau khi D ược ưa i cấp cứu, ông M1 và ông Y ở lại tiếp tục bảo vệ hiện trường và giữ nhiều bao thuốc l iếu nhập lậu c a D vận chuyển rơi tại hiện trường, thì bị c o ã xông ến dùng ta nh trúng vùng ầu c a ông M1 làm ông M1 té xuống bụi cây chuối bên lề ường. Và tại hiện trường ấp X, xã A, huyện T, bị c o cũng xông vào dùng ta

nh vào người bị hại S1 02 cái và dùng chân ạp vào người S1 01 cái. Hành vi c a bị cáo thể hiện vai trò giúp sức tích cực trong vụ án.

[3] Tòa án cấp sơ th m ã xét xử ị cáo Hà Văn T về các tội “Chống người thi hành công vụ” theo hoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự; tội “Cố ý gây thương tích” theo qu ịnh tại iểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự, là c căn cứ, úng người, úng tội, không oan sai gì cho bị c o. Mức h nh phạt 01 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” và 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” mà n sơ th m ã tu ên ối v i bị cáo là hoàn toàn phù hợp v i tính chất, mức ộ nguy hiểm c a hành vi phạm tội do bị c o g ra và ã c n nhắc, xem xét về nh n th n cũng như c c t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ ối v i ị c o. Đ ng thời, cấp sơ th m cũng ã tuyên bị cáo Hà Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là không oan cho bị cáo. Bởi lẽ, bị cáo có làm hư hỏng cặp thùng ựng h sơ c a xe mô tô ặc ch ng và thiệt hại về tài sản từ hành vi c a bị cáo gây ra là có thật. Bị c o h ng c o êu oan hai tội “Cố làm hư hỏng tài sản” và “Cố g thương tích”, nhưng v i những chứng cứ và luận cứ nêu trên cùng lời khai c a người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng v i các chứng cứ khác thu thập ược ã chứng minh hành vi c a bị cáo là có tội. Tuy nhiên, việc cấp sơ th m áp dụng iểm e khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự ể quyết ịnh mức hình phạt cho bị c o là chưa úng v i tính chất, mức ộ từ hành vi phạm tội c a bị cáo vì tính nguy hiểm từ hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra bị hạn chế. Xét theo hư ng có lợi cho bị cáo, cần áp dụng iểm b khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa một phần bản n sơ th m, áp dụng iểm c khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự ể quyết ịnh hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, sau khi gây án, bị cáo Hà Văn T ã t c ộng gia nh mà cụ thể là chị Thái Thị V ã nộp thay cho bị cáo số tiền 2.700.000 ng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T vào ngày 10/10/2018 ể b i thường khắc phục hậu quả. Tại phiên tòa phúc th m, ại diện bị hại không yêu cầu bị cáo b i thường. Xét thấ ,

là sự tự nguyện c a phía bị hại nên ghi nhận, không buộc bị cáo Hà Văn T phải b i thường và trả lại số tiền nêu trên lại cho chị Thái Thị V.

Đối v i kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt ở tội “Chống người thi hành công vụ” c a bị cáo Hà Văn T, bị cáo kháng cáo có nêu tình tiết bị c o ã 02 lần can ngăn hông cho ng phạm dùng c

nh ị hại; ng thời trong giai oạn xét xử phúc th m vụ n, gia nh ị cáo có nộp bằng Tổ quốc ghi công liệt sĩ Hà Phi H11 là ông nội c a bị cáo. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày thì bị cáo không ưa ra ược chứng cứ nào h c ể chứng minh việc bị cáo có can ngăn ng phạm. Vị luật sư ào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo phạm tội lần ầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng xét thấy trong khoảng thời gian ngắn, bị cáo thực hiện liên tục nhiều hành vi phạm tội mà trong c tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cấp sơ th m không áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị c o là c căn cứ. Xét bị c o là lao ộng chính trong gia nh c con c n nhỏ, gia nh ị cáo có công v i Cách mạng. Đ là t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ược qu ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ th m chưa xem xét cho ị cáo. Do , chấp nhận kháng cáo c a bị cáo, sửa nguyên quyết ịnh c a bản n sơ th m về hình phạt ối v i bị cáo Hà Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Tòa án cấp sơ th m cũng ã xử phạt các bị cáo Nguyễn Ngọc L 05 năm 06 tháng tù, Trương Quan T1 05 năm tù, Lê Minh N 04 năm tù cùng về tội “Cố g thương tích” theo iểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là c căn cứ, úng người, úng tội, úng qu ịnh pháp luật, không oan sai gì cho các bị cáo. Các bị c o h ng c o êu oan nhưng v i những chứng cứ và luận cứ nêu trên cùng lời khai c a người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng v i các chứng cứ khác thu thập ược ã chứng minh hành vi c a các bị cáo ã phạm tội “Cố g thương tích” nên không chấp nhận kháng cáo kêu oan c a các bị cáo, giữ nguyên quyết ịnh c a bản n sơ th m ã tu ên.

Về tội “Chống người thi hành công vụ”, bị cáo Trương Quan T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo không cung cấp ược tình tiết giảm nhẹ nào khác tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ th m ã xem xét, nên không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo, giữ nguyên quyết ịnh c a bản n sơ th m về hình phạt ở tội danh này.

Án sơ th m ã xử phạt bị cáo Võ Thái H 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”; 02 năm 09 th ng tù về tội “Cố g thương tích”; tổng hợp hình phạt chung cho hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là c căn cứ, úng người, úng tội, úng qu ịnh pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp tình tiết gia nh ị cáo có công v i Cách mạng. Tuy nhiên, mức hình phạt mà cấp sơ th m áp dụng ối v i bị cáo là phù hợp v i tính chất, mức ộ từ hành vi phạm tội c a bị cáo g ra và ã c xem xét c c t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ ối v i bị cáo nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo, giữ nguyên quyết ịnh c a bản n sơ th m về hình phạt.

[4] Xét ề nghị c a vị ại diện Viện kiểm sát tại phiên t a ối v i các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Ngọc L, Trương Quan T1, Lê Minh N và Võ Thái H là hoàn toàn c căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội ng xét xử chấp nhận.

Xét lời bào chữa c a vị luật sư bào chữa cho bị cáo Hà Văn T về các tội “Cố làm hư hỏng tài sản”, “Cố g thương tích”; Nguyễn Ngọc L về tội “Cố g thương tích” cũng như lời bào chữa c a vị luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Minh N về tội “Cố g thương tích” là chưa phù hợp như Hội ng xét xử ã nhận ịnh, phân tích ở phần trên nên hông c căn cứ ể chấp nhận. Đối v i phần bào chữa cho bị cáo Hà Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ” là c căn cứ một phần nên chấp nhận.

[5] Do kháng cáo c a các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Trương Quan T1, Lê Minh N và Võ Thái H không ược chấp nhận nên các ị c o phải chịu án phí hình sự phúc th m theo luật ịnh.

Kháng cáo c a bị cáo Hà Văn T ược chấp nhận một phần nên ị c o không phải chịu án phí hình sự phúc th m.

Riêng bị cáo Võ Thái H gia nh c hoàn cảnh h hăn về kinh tế, ược cấp sổ hộ nghèo nên ị c o không phải chịu án phí hình sự phúc th m.

Đối v i Đỗ Văn H8, h sơ vụ án thể hiện trong qu tr nh iều tra cũng như tại phiên t a sơ th m, H8 thừa nhận c hành vi nh c c ị hại S1, B1 nhưng chưa ược làm rõ. Do , Hội ng xét xử kiến nghị c c cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ th m tiếp tục iều tra xác minh làm rõ nếu c căn cứ thì xử lý ối tượng Đỗ Văn H8 theo qu ịnh c a pháp luật.

Các phần khác c a quyết ịnh ản n sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào iểm a hoản 1 Điều 355; Điều 356; iểm b khoản 1 Điều 357 c a Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Hà Văn T ối v i tội “Chống người thi hành công vụ”; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Trương Quan T1 ối v i tội “Chống người thi hành công vụ”; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a bị cáo Võ Thái H; Không chấp nhận kháng cáo kêu oan c a các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Ngọc L, Trương Quan T1, Lê Minh N về tội “Cố g thương tích”. Giữ ngu ên phần quyết ịnh c a bản án hình sự sơ th m.

Không chấp nhận kháng cáo kêu oan c a bị cáo Hà Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Sửa một phần bản n sơ th m về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự ối v i bị cáo Hà Văn T về tội “Cố làm hư hỏng tài sản”.

Tu ên ố: Bị c o Hà Văn T phạm các tội “Chống người thi hành công vụ”, “Cố làm hư hỏng tài sản”, “Cố g thương tích”; ị c o Ngu ễn Ngọc L phạm tội “Cố g thương tích”; c c ị c o Trương Quan T1, Lê Minh N và Võ Thái H cùng phạm c c tội “Chống người thi hành công vụ”, “Cố g thương tích”.

Căn cứ hoản 1 Điều 330; iểm s hoản 1, hoản 2 Điều 51; hoản 1 Điều 17 Bộ luật h nh sự; Xử phạt ị c o Hà Văn T 10 (mười) th ng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ iểm c khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hà Văn T 02 năm tù về tội “Cố làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ iểm d khoản 3 Điều 134; khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hà Văn T 06 năm tù về tội “Cố g thương tích”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật h nh sự; Tổng hợp h nh phạt chung cho cả a tội, uộc ị c o phải chấp hành là 08 (tám) năm 10 (mười) th ng tù. Thời hạn tù tính từ ngà 11 3 2018.

Căn cứ iểm d hoản 3 Điều 134; iểm hoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh sự; Xử phạt ị c o Ngu ễn Ngọc L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngà 10 3 2018.

Căn cứ hoản 1 Điều 330; iểm s hoản 1 Điều 51; hoản 1 Điều 17 Bộ luật h nh sự; xử phạt ị c o Trương Quan T1 09 th ng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ iểm d khoản 3 Điều 134; iểm b khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trương Quan T1 05 năm tù về tội “Cố g thương tích”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật h nh sự; Tổng hợp h nh phạt chung cho cả hai tội, uộc ị c o phải chấp hành là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngà 17 3 2018.

Căn cứ khoản 1 Điều 330; iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Minh N 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ iểm d khoản 3 Điều 134; iểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Minh N 04 năm tù về tội “Cố ý gâ thương tích”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/7/2018.

Căn cứ khoản 1 Điều 330; iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thái H 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”;

Căn cứ iểm d khoản 3 Điều 134; iểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thái H 02 năm 09 th ng tù về tội “Cố g thương tích”.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự; Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/8/2018.

Về trách nhiệm d n sư: Ghi nhận sự tự nguyện c a bị hại là Công an t nh Đ ng Tháp không yêu cầu bị cáo Hà Văn T b i thường. Trả lại số tiền 2.700.000 ng mà chị Thái Thị V ã nộp thay cho bị cáo Hà Văn T tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T vào ngày 10/10/2018.

Về án phí: Các bị c o Nguyễn Ngọc L, Trương Quan T1 và Lê Minh N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 ng n phí h nh sự phúc th m.

Các bị cáo Hà Văn T và Võ Thái H không phải chịu n phí h nh sự phúc th m.

Các phần khác c a quyết ịnh n sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

n

n

TM HỘI ĐỒNG XÉT X PH C THẨM

- TANDTC – Vụ Gi m ốc kiểm tra 1;

THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N T A

- Ban Nội chínhTnh y:

- Sở Tưph p T nh;

(đã ký)

- VKSND T nh;

- Cơ quanTHAHS Công an T nh;

- Trạitạm giam Công anTnh;

- TA-VKS-THADShuyệnT;

Lê Khắc Thịnh

- CQCSĐT Công an huyện T;

- Bị c o;

- Phòng h sơnghiệp vụ Công anTnh;

- Phòng KTNV-THA.TA Tnh;

- Lưu:VT, HSVA (M).

Cỡ chữ