- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "CHỊ L YÊU CẦU LY HÔN VỚI ANH N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Đoàn Thị L đối với anh Nguyễn N về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 178/2019/HNGĐ-ST Ngày 29-11-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thụy Vân Hà;
Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hà – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 944/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 201/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số: /2019/QĐST- HNGĐ ngày tháng năm 2019 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị L, sinh năm 1988; thƣờng trú: Ấp T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh H; tạm trú: 12A/23 khu phố Đ1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Nguyễn N; sinh năm 1985; thƣờng trú: Ấp T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh H; tạm trú: 12A/23 khu phố Đ1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Đoàn Thị Lành trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn N sau thời gian tìm hiểu nhau thì tự nguyện tiến đến hôn nhân, sống chung với nhau từ năm 2010, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện Q, tỉnh H theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 47, quyển số 02/2010 ngày 26 tháng 7 năm 2010. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại thị xã D, tỉnh B cho đến nay. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đƣợc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự đồng cảm nên thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù chị L đã cố gắng hàn gắn gia đình nhƣng không có kết quả. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh N nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh N.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Lê Phƣơng L, sinh ngày 20/10/2011 hiện nay hai cháu đang sống với hai vợ chồng, chị L yêu cầu đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn đã đƣợc Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố và không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Btham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Ngày 25/10/2019, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t. Bị đơn anh Nguyễn N đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 12/11/2019 và ngày 29/11/2019 nhƣng anh Nguyễn N vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn N tự nguyện sống chung sống chung với nhau từ năm 2010, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện Q, tỉnh H theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 47, quyển số 02/2010 ngày 26 tháng 7 năm 2010 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị L xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự đồng cảm nên thƣờng xuyên xảy ra cãi vã, anh N không quan tâm đến gia đình vợ con. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh N đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh N không có mặt.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc anh N không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị L cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó chị L yêu cầu ly hôn với anh N là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Chị L yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung tên Nguyễn Lê Phƣơng L, sinh ngày 20/10/2011. Xét thấy, trong thời gian trƣớc đây và hiện nay con chung do chị L trực tiếp nuôi dƣỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Do đó, chị L yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, chị L không yêu cầu anh Nghiêm cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Tòa án ghi nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thị xã D, tỉnh B.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Đoàn Thị L đối với anh Nguyễn N về việc ly hôn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn N.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lê Phƣơng L, sinh ngày 20/10/2011cho Chị Đoàn Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của Chị Đoàn Thị L không yêu cầu anh Nguyễn N cấp dƣỡng nuôi con.
Sau ly hôn, Chị Đoàn Thị L đối với anh Nguyễn N đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Nguyễn N lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Đoàn Thị L nuôi con thì chị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh N theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Đoàn Thị L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đoàn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghin đồng) án phí về ly hôn đƣợc khấu trƣ̀ hết vào tiền tạm ứng án phí đã
̀ nô ̣p theo biên lai số 0029305 ngày 20/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B.
3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đƣơng sự (2); - TAND tỉnh B (1); - VKSND thị xã D (1); - Chi cục THADS thị xã D (1); - UBND thị trấn S, huyện Q, tỉnh H (1); - Lƣu: VT, hồ sơ vụ án (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Thị Ngọc Liên |