- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phước A, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện S, tỉnh Quảng Nam yêu cầu ly hôn vớiBị đơn: Chị Hồ Thị B, sinh…"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Phước A về việc “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178A/2019/HNGĐ-ST Ngày: 23/10/2019 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Tài.
2. Bà Trương Thị Hồng Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liêm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 109/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phước A, sinh năm 1980. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện S, tỉnh Quảng Nam.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim Th, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Tr, xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Hồ Thị B, sinh năm 1988. Vắng mặt.
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã Q, huyện S, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 02/7/2019, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và nguyên đơn - A Nguyễn Phước A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: A và chị Hồ Thị B tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 29/7/2014. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chị B nhiều lần tự ý bỏ nhà đi Thành phố Hồ Chí Minh mặc dù anh A đã khuyên can nhiều lần nhưng chị B vẫn không nghe. Từ đầu tháng 6/2016 đến nay chị B bỏ nhà đi biệt tích, anh A và gia đình chị B đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức gì về chị B. Sau đó anh A làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị B mất tích và đến ngày 13/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn đã ban hành Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2019/QĐST-VDS tuyên bố chị Hồ Thị B mất tích. Nay chị B đã mất tích nên anh A yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị B.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn - chị Hồ Thị B: Hiện nay chị B đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị B theo quy định của pháp luật nhưng tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tại phiên tòa chị B đều vắng mặt không lý do; chị B không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả trA luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Tại phiên tòa, bịa đơn - chị Hồ Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Phước A có quan hệ hôn nhân với chị Hồ Thị B có nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã Q, huyện S, tỉnh Quảng Nam. Nay, anh A khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị B nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Anh A và chị B tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 29/7/2014 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, anh A cho rằng sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn do chị B nhiều lần tự ý bỏ nhà vào Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đầu tháng 6/2016 đến nay chị B bỏ nhà đi biệt tích, anh A và gia đình đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng không có tin tức gì. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2019/QĐST-VDS ngày 13/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn đã tuyên bố chị B mất tích nhưng đến nay vẫn không thấy chị B trở về địa phương và không có tin tức xác thực về chị B còn sống hay đã chết. Tại phiên tòa, chị B tiếp tục vắng mặt không có lý do, trong khi anh A vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh A là phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Phước A phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy B Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Phước A về việc “Ly hôn”.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Phước A và chị Hồ Thị B.
2. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng anh Nguyễn Phước A phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà anh A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007034 ngày 02/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/10/2019); đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Quảng Nam - VKSND huyện Quế Sơn; - Chi cục THADS huyện Quế Sơn; - UBND xã M; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Văn Thể |