- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Abdul H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 178/2018/HS-ST Ngày: 13-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Trung Thành
Bà Huỳnh Nguyễn Anh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, số 06 Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 142/2018/HSST ngày 15 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 816/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Abdul H; ngày sinh 31 tháng 07 năm 1996, tại Thành phố H; Hộ khẩu thường trú: 24/24 đường V, phường C, Quận X, Thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Hồi giáo; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; con ông (không rõ) và bà Sa K; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền án - tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 08 tháng 6 năm 2018; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú: 7/15 Khu phố 4, phường L, quận T, Thành phố H; Chỗ ở hiện nay: 15 đường D, Khu phố 1, phường B, Quận Y, Thành phố H (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đào Nguyễn Thanh T, sinh năm 1975; trú tại: 77B đường số 1, phường P, Quận Z, Thành phố H ( Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 55 phút ngày 07/6/2018, khi Abdul H gặp đối tượng tên Bo chưa rõ lai lịch tại đầu hẻm số 4 Nguyễn Cảnh Chân, phường Cầu Kho, Quận 1 và được Bo rủ đi cướp giật tài sản nên Abdul H đồng ý. Sau đó, Bo điều khiển xe máy loại Vision không rõ biển số chở H ngồi sau đến công viên 23/9, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 và Bo lấy 01 chiếc xe gắn máy loại wave biển số 53X7 – 3653 giao cho H điều khiển chạy theo cùng Bo. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 08/6/2018, khi cả hai đến trước số 1B Huyền Trân Công Chúa, phường Bến Thành, Quận 1, thì Bo phát hiện chị Nguyễn Thị A đang ngồi trên xe máy dựng sát lề đường và cầm chiếc túi xách trên tay phải nên kêu H cướp giật chiếc túi xách của chị A, H đồng ý và điều khiển xe áp sát từ phía sau bên phải của chị A rồi dùng tay phải giật chiếc túi xách của chị A rồi tăng ga bỏ chạy hướng về đường Nguyễn Du, Quận 1. Chị A tri hô thì lúc này có các anh Đào Tiến Toàn, Nguyễn Trung Việt là Trinh sát Đội Cảnh sát hình sự Công an Quận 1 và Nguyễn Văn Bình là sinh viên thực tập tại Đội Cảnh sát hình sự Công an Quận 1 đang tuần tra chứng kiến và phát hiện nên tiến hành truy đuổi. Khi H chạy đến giao lộ Đặng Trần Côn – Nguyễn Du, phường Bến Thành, Quận 1 thì bị bắt giữ cùng vật chứng giao Công an phường Bến Thành, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 1 điều tra xử lý.
Quá trình điều tra, Abdul H đã khai nhận do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khi được Bo rủ đi cướp giật thì H đồng ý và đã thực hiện hành vi cướp giật túi xách của chị Nguyễn Thị A như đã nêu trên.
Đối với đối tượng tên Bo đã chạy thoát, do chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra – công an Quận 1 đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ tiến hành xử lý sau.
Vật chứng vụ án gồm có: 01 túi xách màu nâu bên trong có số tiền 5.400.000 đồng; 01 chiếc xe máy hiệu Honda, loại Wave biển số 53X7 – 3653.
Tại Cáo trạng số 150/CT-VKSNDQ1 ngày 11 tháng 10 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Abdul H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 vẫn giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Abdul H về tội “Cướp giật tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Abdul H từ 03 năm đến 04 năm tù; 01 chiếc xe máy hiệu Honda, loại Wave biển số 53X7 – 3653 giao Chi cục Thi hành án dân sự tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu, sau 01 tháng kể từ ngày đăng báo nếu không có ai là chủ sở hữu hợp pháp đến nhận sẽ tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước; 01 túi xách màu nâu bên trong có số tiền 5.400.000 đồng đã thu hồi trả lại cho người bị hại là chị Nguyễn Thị A, chị A không có yêu cầu gì về khoản bồi thường dân sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 08/6/2018, tại trước nhà số 1B Huyền Trân Công Chúa, phường Bến Thành, Quận 1, Abdul H cùng đối tượng tên Bo chưa rõ lai lịch có hành vi dùng phương tiện xe gắn máy nhanh chóng cướp giật túi xách của chị Nguyễn Thị A. Tổng tài sản bị cáo Cướp giật là số tiền 5.400.000 đồng và chiếc túi xách có trị giá 167.000 đồng (Theo bản kết luận định giá tài sản số 146/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 1); Như vậy tổng trị giá tài sản là 5.567.000 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ, lời khai của người bị hại và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Abdul H đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra; Bị cáo biết rất rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chính đáng nên vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với đối tượng tên Bo, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch. Nên Công an Quận 1 tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự:
- 01 túi xách màu nâu bên trong có số tiền 5.400.000 đồng đã thu hồi trả bị hại, bị hại không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.
- 01 chiếc xe máy hiệu Honda, loại Wave biển số 53X7 – 3653. Qua giám định có số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh xe do anh Đào Nguyễn Thanh T đứng tên chủ sở hữu hiện anh T đã bán nhà đi nơi khác, không biết anh T hiện ở đâu. Bị cáo khai xe trên là của Bo đưa cho bị cáo đi cướp giật. Cơ quan điều tra Công an Quận 1 đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa ai liên hệ. Nên giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1 tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, sau 01 tháng kể từ ngày đăng báo nếu không có ai là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận sẽ tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Abdul H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Abdul H 04 (Bốn) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày: 08/6/2018;
- Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
01 chiếc xe máy hiệu Honda, loại Wave biển số 53X7 – 3653, số khung LLCXCHLL8Y1050315, số máy LCE110-A00550315 theo Phiếu nhập kho vật chứng 176/PNK ngày 14/6/2018 của Công an Quận 1; Giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1 tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp trong thời hạn 01 tháng, sau 01 tháng kể từ ngày đăng báo nếu không có ai là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận sẽ tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Về án phí:
Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1; - Công an Quận 1; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Lê |