vanban.org

Bản án 178/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Hữu M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2017. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số:178/2018/HS-ST
Ngày 12-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 156/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2018/QDXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Hữu M, sinh năm 1988 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Thôn H, xã C M, huyện C X, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Khu phố B Đ, phường B H, thị xã Th A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Hữu A, sinh năm 1960 và bà Lê Thị H, sinh năm 1964; bị cáo có 03 anh em ruột, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1994; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1991; bị cáo có 02 con ruột, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Ngày 24/6/2005, Ủy ban nhân dân huyện C X, tỉnh Hà Tĩnh có Quyết định số 1358 đưa vào cơ sở giáo dưỡng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời gian cai nghiện là 02 năm;

- Ngày 15/9/2008 bị Tòa án nhân dân huyện T Uy, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 110/2008/HSST, chấp hành xong hình phạt vào ngày 01/9/2009;

- Ngày 26/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện C X, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ theo Bản án số 08/2012/HSST, chấp hành xong hình phạt vào ngày 28/12/2013.

Bị bắt tạm giam ngày 21/12/2017, có mặt.

- Bị hại: Ông Phan Lương T, sinh năm 1983; thường trú: Xóm B, xã Ngh M, huyện Th H, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Tổ 24B, khu phố Đ Th, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1980; thường trú: Xã T A, huyện N Th, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở: Tổ 24B, khu dân cư Đ A, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hữu M không có nghề nghiệp, sinh sống cùng gia đình tại nhà trọ ở khu phố B Đ, phường B H, thị xã Th A, tỉnh Bình Dương. Do không có tiền tiêu xài nên khoảng đầu tháng 12/2017, M đến khu vực Cầu vượt S Th gặp tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T dài khoảng 10 cm để bẻ khóa xe mô tô; 01 thỏi từ dài 04 cm dùng bẻ khóa xe mô tô và 01 thanh sắt dài khoảng 30 cm có một đầu được mài dẹp chia làm 02 mũi nhọn với giá 2.000.000 đồng để sử dụng vào việc đi trộm tài sản.

Khoảng 08 giờ ngày 21/12/2017 M mang theo 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T dài khoảng 10 cm để bẻ khóa xe mô tô; 01 thỏi từ dài 04 cm dùng bẻ khóa xe mô tô và 01 thanh sắt dài khoảng 30cm một đầu được mài dẹp chia làm 02 mũi nhọn rồi thuê xe mô tô khách từ bến xe T Đ H đến khu dân cư Đ Th thuộc khu phố Đ Th, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản chiếm đoạt. Tại đây, M đi bộ được khoảng 05 phút thì đến địa chỉ 24B khu phố Đ Th, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Lúc này, M nhìn thấy 01 ki ot số thứ 05 đang khóa cửa ngoài bằng 02 ổ khóa và nhìn qua khe cửa vào bên trong thấy có dựng xe mô tô kiểu dáng Suzuki Satria, biển số 59S1-019.63. M liền lấy thanh sắt dài 30 cm mang theo cạy bung 02 ổ khóa. M mở cửa đi vào bên trong dùng đoản hình chữ T tra vào ổ khóa bẻ khóa xe mô tô kiểu dáng Suzuki Satria, biển số 59S1-019.63 và vặn mạnh thì mở được khóa, đèn điện nguồn xe bật sáng M cất thanh sắt và cây đoản vào người rồi đẩy xe ra khỏi kiot. Ra ngoài M đạp nổ máy xe và chạy xe ra đường M Ph – T V. Khi M vừa chạy ra được khoảng 50 m thì bị lực lượng tuần tra công an phường T Đ H tuần tra phát hiện. M bỏ xe chạy bộ được khoảng 400 m thì bị bắt, còn cây đoản hình chữ T, thỏi từ, thanh sắt và 02 ổ khóa thì M vứt bỏ trên đường bỏ chạy (cây đoản hình chữ T và thỏi từ đã thu hồi được).

Qua làm việc M khai nhận hành vi vi phạm nên Công an phường T Đ H lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội ra đầu thú.

Ngày 29/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An khởi tố vụ án Trộm cắp tài sản, khởi tố và áp dụng biện pháp tạm giam đối với Lê Hữu M tội Trộm cắp tài sản để điều tra cho đến nay.

Vật chứng vụ án: 01 (một) xe môtô hiệu Suzuki Satria biển số: 59S1-019.63, số máy: F125ID603356, số khung: 13BLWI603376 màu cam – đen (sau giám định có nguồn gốc là nhãn hiệu SUZUKI-STINGER mang biển số: 59S1-019.63, số khung: BF12B-TH305643, số máy: F122-TH513667), 01 (một) cây đoản hình chữ “T” dài khoảng 10 cm; 01 (một) thỏi từ dài khoảng 04 cm.

Quá trình điều tra bị hại ông Phan Lương T cung cấp “Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” số 095887 của xe môtô hiệu Suzuki Satria, biển số: 59S1-019.63 tên chủ xe Nguyễn Tuấn A, địa chỉ: Số 312 L Th R, phường Th A, Quận MH, Thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 12/10/2016. Qua tiến hành xác minh tại Công an phường Th A, Quận MH, thành phố Hồ Chí Minh thì tại địa phương không có địa chỉ số 312 đường L Th R, phường Th A, Quận MH, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Kết luận giám định số 67/GĐ - PC54 ngày 13/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương: “Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” số 095887, tên chủ xe Nguyễn Tuấn A, địa chỉ: 312 L Thị R, phường Th A, quận MH, Thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 12/10/2016 do bị hại ông Phan Lương T cung cấp là giả được làm bằng phương pháp in phun màu điện tử.

Theo Kết luận giám định số 68/SKSM-PC54 ngày 07/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương như sau: Xe môtô hiệu Suzuki Satria, biển số: 59S1-019.63, số máy: F125ID603356, số khung: F13BLWJ603376 có nguồn gốc là loại xe mô tô hai bánh nhãn hiệu SUZUKI-STINGER mang biển số: 59S1-019.63, số khung dưới yên là số đóng mới, số khung trên cổ xe là số nguyên thủy, số máy bị đục sửa. Số khung nguyên thủy của xe là BF12B-TH305643, số máy sau giám định là: F122-TH513667.

Qua xác minh số khung, số máy nguyên thủy của xe SUZUKI-STINGER, mang biển số: 59S1-019.63 tại Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương kết quả không tìm thấy dữ liệu và thông tin chủ sở hữu xe.

Theo Kết luận định giá tài sản số 366/BB.ĐG ngày 29/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Dĩ An: Xe mô tô hai bánh hiệu Suzuki Satria, màu cam-đen, số khung: 13BLWI603376, số máy: F125ID603356, biển số: 59S1-019.63 trị giá 71.000.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 113/BB.ĐG ngày 23/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Dĩ An: Xe mô tô hai bánh hiệu Suzuki Stinger, số khung: BF12B-TH305643, số máy: F122-TH513667, biển số: 59S1-019.63 trị giá 53.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về các Kết luận giám định số 67/GĐ - PC54 ngày 13/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, Kết luận giám định số 68/SKSM-PC54 ngày 07/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, Kết luận định giá tài sản số 366/BB/GG ngày 29/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Dĩ An và Kết luận định giá tài sản số 113/BB.ĐG ngày 23/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Dĩ An.

Tại Cáo trạng số 172/QĐ-KSĐT ngày 04 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Lê Hữu M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Hữu M về tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Hữu M từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản bị thiệt hại là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI-STINGER mang biển số: 59S1-019.63, số khung: BF12B-TH305643, số máy F122-TH513667 là xe mô tô không rõ nguồn gốc. Ông Phan Lương T không biết là xe mô tô không rõ nguồn gốc nên không xử lý, đồng thời ông Phan Lương T không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây đoản hình chữ “T” dài khoảng 10 cm; 01 (một) thỏi từ dài khoảng 04 cm.

Đối với 01 cây sắt bị can dùng phá ổ khóa cổng và 02 ổ khóa cổng hiện không thu hồi.

Đối với 01 (một) xe môtô hiệu Suzuki Satria biển số: 59S1-019.63, số máy: F125ID603356, số khung: F13BLWJ603376 màu cam – đen (sau giám định có nguồn gốc là nhãn hiệu SUZUKI-STINGER mang biển số: 59S1-019.63, số khung: BF12B-TH305643, số máy: F122-TH513667) chưa xác định rõ nguồn gốc, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An tiếp tục quản thủ để xác minh làm rõ.

Đối với 01 (một) “Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” số 095887 của xe mô tô hiệu Suzuki Satria, biển số: 59S1-019.63 tên chủ xe Nguyễn Tuấn A, địa chỉ: Số 312 L Th R, phường Th A, Quận MH, Thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 12/10/2016. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục quản thủ để xác minh làm rõ hành vi làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 08 giờ ngày 21/12/2017 tại số nhà 24B khu phố Đ Th, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lê Hữu M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Phan Lương T 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki – Stinger, mang biển số 59S1-019.63, số khung BF12B-TH305643, số máy F122-TH513667 với trị giá là 53.000.000 đồng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;…”.

Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Lê Hữu M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản’’ với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng” theo quy định điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và người làm chứng trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, Cáo trạng số 172/QĐ-VKS ngày 04 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Lê Hữu M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo có giá trị 53.000.000 đồng là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Về nhận thức bị cáo hoàn toàn biết hành trộm cắp tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì lòng tham, muốn kiếm tiền nhanh chóng không phải lao động để phục vụ nhu cầu bản thân mà bị cáo cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có cha ông Lê Hữu A là thương binh ¼; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện bị cáo từng bị đưa vào cơ sở giáo dưỡng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị Tòa án nhân dân huyện T Uy, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và Tòa án nhân dân huyện C X, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI-STINGER mang biển số: 59S1-019.63, số khung: BF12B-TH305643, số máy F122-TH513667 là xe mô tô không rõ nguồn gốc. Ông Phan Lương T không biết là xe mô tô không rõ nguồn gốc nên không xử lý, đồng thời ông Phan Lương T không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) cây đoản hình chữ “T” dài khoảng 10 cm; 01 thỏi từ dài khoảng 04 cm là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông tên T bán cho M 01 (một) cây đoản bằng kim loại hình chữ T dài khoảng 10cm để bẻ khóa xe mô tô, 01 (một) thỏi từ dài 04 cm dùng bẻ khóa xe mô tô và 01 (một) thanh sắt dài khoảng 30 cm có một đầu được mài dẹp chia làm 02 mũi nhọn, hiện không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau; Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria biển số: 59S1-019.63, số máy: F125ID603356, số khung: 13BLWJ603376 màu cam – đen (sau giám định có nguồn gốc là nhãn hiệu SUZUKI-STINGER mang biển số: 59S1-019.63, số khung: BF12B-TH305643, số máy: F122-TH513667) chưa xác định rõ nguồn gốc, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An tiếp tục quản thủ để xác minh làm rõ; Đối với 01 (một) “Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” số 095887 của xe môtô hiệu Suzuki Satria, biển số: 59S1-019.63 tên chủ xe Nguyễn Tuấn A, địa chỉ số 312 đường L Th R, phường Th A, quận MH, Thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 12/10/2016. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục quản thủ để xác minh làm rõ hành vi làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức là đúng quy định của pháp luật.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt, nhân thân và trách nhiệm dân sự. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.

Xử phạt bị cáo Lê Hữu M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2017.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây đoản hình chữ “T” dài khoảng 10 cm; 01 (một) thỏi từ dài khoảng 04 cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/6/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lê Hữu M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.

Hội đồng xét xử sơ thẩm Các Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ