vanban.org

Bản án 178/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 19/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Vỏ Thành T , sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Phạm Vỏ Thành T 06 (Sáu) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/11/2017. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "phạm võ thành T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Vỏ Thành T , sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2018/HS-PT
Ngày 19-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Đức Kỳ

Các Thẩm phán

Ông Trần Minh Long

Ông Bùi Trọng Danh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 19/10/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 157/2018/TLPT-HS ngày 12/9/2018 đối với bị cáo Phạm Vỏ Thành T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 79B/2018/HS-ST ngày 07/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Vỏ Thành T, sinh ngày 07/10/1994 tại Quảng Nam; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khối x, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở: K4xx/1xx H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không (Sinh viên Trường Cao đẳng T); trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm S (s) và bà Nguyễn Thị Đ (s); tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/11/2017. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 40 phút ngày 14/11/2017 công an Tp Đà Nẵng phối hợp với Cục hải quan thành phố Đà Nẵng và Trung tâm khai thác vận chuyển bưu điện Tp Đà Nẵng phát hiện trước số nhà số xx Đ , TP Đà Nẵng, Phạm Vỏ Thành T có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra T đang cầm một gói bưu phẩm bên trong có 01 gói nylong màu trắng chứa 305 viên nén có hình răng cưa, một mặt hình vương miện, màu vàng là ma túy loại MDMA có tổng trọng lượng 94,15 gam.

Căn cứ lời khai của T , Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Đà Nẵng đã bắt giữ Võ Hoàng Thân S.

Qua điều tra xác định: Vào giữa tháng 10/2017, Võ Hoàng Thân S liên lạc hỏi mua của một người tên N (không rõ lai lịch) 10.000.000 đồng ma túy thuốc lắc để sử dụng khi chuẩn bị tổ chức sinh nhật, N đồng ý và cho biết thuốc lắc nhờ người ở Đức gửi về nên cần S gửi địa chỉ cụ thể cho N . S lấy địa chỉ của anh Phạm Vỏ Thành S (là anh ruột của T ) cung cấp cho N. Đến khoảng 10 giờ ngày 14/11/2017 S nhận được điện thoại của bưu điện xx Đ, Tp Đà Nẵng thông báo có bưu phẩm từ Đức gửi về nên S đón taxi đi từ Đ , Quảng Nam ra nhà T tại đường H, TP Đà Nẵng và nhờ T ra bưu điện nhận giúp S gói bưu phẩm đồng thời S cũng cho T biết trong bưu phẩm là ma túy loại thuốc lắc, T đồng ý và sử dụng xe mô tô BKS 43C1-231.XX đến xx Đ nhận gói bưu phẩm bên trong có 305 viên ma túy loại loại MDMA và vận chuyển về cho S thì bị bắt quả tang.

Tại Bản án sơ thẩm số 79B/2018/HS-ST ngày 07/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã quyết định:

Căn cứ vào: điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Phạm Vỏ Thành T 7 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/11/2017.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần hình phạt đối với Võ Hoàng Thân S nhưng bị cáo này không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị. Tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án.

Ngày 17/8/2018, bị cáo Phạm Vỏ Thành T có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Vỏ Thành T theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo. Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy bản án hình sự sơ thẩm số 79B/2018/HS-ST ngày 07/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã xét xử bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng tội. Về mức án, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Vỏ Thành T vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ

án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Vào ngày 14/11/2017 Võ Hoàng Thân S đến nhà Phạm Vỏ Thành T nhờ T ra bưu điện nhận giúp S gói bưu phẩm. Theo Võ Hoàng Thanh S khai có nói cho T biết trong bưu phẩm là loại ma túy thuốc lắc, T đồng ý đi nhận giúp và sử dụng xe mô tô BKS 43C1-231.47 đến cục Bưu bưu chính viễn thông xx Đ để nhận gói bưu phẩm. Trên đường vận chuyển về giao cho S thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang, thu giữ 305 viên nén là ma túy loại MDMA có tổng trọng lượng 94,15 gam. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 79B/2018/HS-ST ngày 07/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử bị cáo Phạm Vỏ Thành T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 là có cơ sở, đúng tội.

. Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo đi nhận giúp gói bưu phẩm cho S , trong đó có 94,15 gam ma túy loại thuốc lắc, trên đường vận chuyển đi giao hàng cho S thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử phạt thỏa đáng, để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do mối quan hệ bạn bè thân quen với Võ Hoàng Thân S nên T mới nhận lời vận chuyển giúp, bị cáo biết bên trong gói bưu phẩm là ma túy nhưng không biết chính xác số lượng ma túy trong gói bưu phẩm. Sau khi bị bắt, bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên đã thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, tự thú khai ra đồng phạm trong vụ án để cơ quan điều tra nhanh chóng truy bắt đối tượng còn lại. Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của nhà nước. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm. Gia đình bị cáo khó khăn, cha mẹ bị cáo bị bệnh nặng. Cha bị cáo được nhà nước trợ cấp thường xuyên đối với người khuyết tật. Tuổi đời bị cáo còn trẻ, hiện đang là sinh viên trường Cao đẳng thương mại năm thứ ba, đây là tình tiết giảm nhẹ mới được áp dụng cho bị cáo tại khoản 2 điều 51 BLHS năm 2015, mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo. Xét thấy, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 07 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 51 BLHS, do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 54 BLHS năm 2015, quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm b Khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Vỏ Thành T , sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào: điểm m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999; điểm s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Phạm Vỏ Thành T 06 (Sáu) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/11/2017.

2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ