- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V (tên gọi khác: L) phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 178/2017/HSST Ngày 28-7-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn .
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chiến , Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Văn phòng khu phố N1, phƣờng A, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng. Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm lƣu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 194/2017/HSST ngày 05 tháng 7 năm 2017, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 188/2017/HSST-QĐ ngày 17/7/2017 đối với bị cáo:
Lê Thanh V (tên gọi khác: L), sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: Khu phố Đ2, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng; chỗ ở: Khu phố 2, phƣờng X, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Lê Văn T, sinh năm 1959 và con bà Nhịp Thị C, sinh năm 1958. Tiền án, tiền sự; Không; bị cáo bị bắt giam ngày 15/01/2017, có mặt.
Người bị hại: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1984; thƣờng trú: Ấp V, xã T, huyện D, tỉnh Cà Mau. Hiện đang bị bắt tạm giam về tội “Cƣớp tài sản” tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị L, sinh năm 1989; thƣờng trú: Xã C, huyện X, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Khu phố Đ4, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1992; thƣờng trú: Xã T, huyện M, tỉnh Cà Mau. Hiện đang bị bắt tạm giam về tội “Cƣớp tài sản” tại Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
Người làm chứng: Bà Phạm Thị Y, sinh năm 1980; thƣờng trú: Xã L, huyện N, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Khu phố Đ4, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 31/12/2016, bị cáo Lê Thanh V cùng với Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn N2 chơi đá gà thắng thua bằng tiền với số tiền 1.500.000 đồng tại địa chỉ khu phố Đ4, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng. Khi chơi gà của V thua cuộc, nhƣng V ôm gà bỏ chạy không chung tiền, N1 nói N2 đuổi theo V buộc V trả tiền, đồng thời N1 chạy vào phòng ở trọ của bà Phạm Thị B lấy 01 dao inox kích thƣớc 25cm x 9cm đuổi theo. N2 đuổi kịp, ôm V lại và dùng tay siết cổ, N1 chạy đến dùng dao kề vào cổ V nói “mày có chung tiền không” V nói “để em chung”, và lấy trong túi quần 1.000.000đồng đƣa N2, lúc này N1 dùng tay tát, ôm vật V xuống đất, dùng răng cắn vào tay V thì đƣợc mọi ngƣời can ngăn.
V về kể lại cho bạn tên Phan Hùng D, ngƣời tên T, L và 3 ngƣời bạn khác của D (không rõ nhân thân) việc N1, N2 đuổi đánh lấy tiền. Sau đó V rủ cả nhóm mang theo dao mã tấu, búa đẽo, gậy tầm vông đi tìm đánh trả thù cho V. Khoảng 18 giờ cùng ngày V, D, L, T và 03 ngƣời bạn của D điều khiển 03 xe mô tô (không rõ biển số) V, T mỗi ngƣời cầm một búa đẽo, D cầm gậy tầm vông, bạn D cầm dao mã tấu đi đến địa chỉ khu phố Đ4, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng gặp N1, N2 đang đứng trƣớc phòng trọ, V chỉ về phía N1, N2 nói “nó kìa, nó kìa”, nhóm V xuống xe xông đến đuổi đánh N1, N2. V, L và 02 ngƣời bạn của D đuổi N2, V dùng búa đẽo đánh N2 vào Lƣng nhƣng không gây thƣơng tích. D cầm gậy tầm vông, T cầm búa đẽo, bạn D cầm dao mã tấu đuổi N1, N1 bỏ chạy vào phòng ngủ bà Phạm Thị Y địa chỉ khu phố Đ4, phƣờng B dùng tay đóng cửa lại, bạn D dùng dao mã tấu chém vào cửa, lƣỡi dao xuyên qua cửa trúng vào bàn tay phải của N1, sau đó cả nhóm lên xe tẩu thoát.
Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0028/GĐPY/2007 ngày 13/01/2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Đồng Nai kết luận Nguyễn Văn N1 bị: Tổn thƣơng đứt nhánh thần kinh giữa tay phải N1 qua vị trí vết thƣơng bàn tay phải, đã đƣợc phẫu thuật khâu nối, hiện để lại di chứng hạn chế vận động ngón II tay phải và tê rần ngón II tay phải, tỷ lệ: 15%; tổn thƣơng gãy hở xƣơng bàn II tay phải đã phẩu thuật kết hợp xƣơng, tỷ lệ: 10%; vết thƣơng bàn tay phải kích thƣớc 20 x 0,2cm, tỷ lệ: 04%. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể tại thời điểm giám định 27%, vật gây thƣơng tích vật sắc.
Nguyễn Văn N2 không bị thƣơng tích, không yêu cầu khởi tố vụ án và không yêu cầu bị cáo V phải bồi thƣờng thiệt hại.
Đối với tài sản là cảnh cửa phòng ngủ của bà Phạm Thị Y bị hƣ hỏng, bà Y từ chối giám định thiệt hại và không có yêu cầu bồi thƣờng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn N1 yêu cầu bị cáo V bồi thƣờng số tiền 157.654.000đồng (chi phí tiền thuốc điều trị 3.344.000đồng; chi phí tiền ăn bồi dƣỡng trong những ngày nằm viện 700.000đồng; tiền công do không lao động đƣợc trong khi nằm viện 2.700.000đồng; tiền công lao động cho ngƣời thân chăm sóc khi nằm viện 910.000đồng; tiền tổn thất tinh thần 150.000.000đồng).
Bị cáo Lê Thanh V thừa nhận ngày 31/12/2016 đã rủ Phan Hùng D, ngƣời tên T, L và 03 ngƣời bạn của D (không rõ nhân thân) đi đánh trả thù Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn N2. Bị cáo V không có ý kiến khiếu nại về bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0028/GĐPY/2007 ngày 13/01/2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Đồng Nai đối với bị hại N1.
Quá trình điều tra không làm việc đƣợc với Phan Hùng D, ngƣời tên T, L và 3 ngƣời bạn của D (không rõ nhân thân), Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh xử lý sau.
Cáo trạng số 198/QĐ/KSĐT ngày 04/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Thanh V về tội Cố ý gây thƣơng tích theo Khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 104; Điểm p Khoản 1 Điều 46 và Điều 53 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo V từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo V, bị hại N1 thỏa thuận trong việc bồi thƣờng tiền thuốc, tiền công lao động, tiền chi phí cho ngƣời đi nuôi ngƣời bị hại, chi phí tiền ăn bồi dƣỡng khi nằm viện. Đối với tiền tổn thất tinh thần 150.000.000đồng do bị cáo, ngƣời bị hại không thỏa thuận đƣợc việc bồi thƣờng, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo V nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh V khai nhận việc rủ Phan Hùng D, T, L và 3 ngƣời bạn của D (không rõ nhân thân) mang theo búa đẽo, gậy tầm vông, dao mã tấu đi tìm đánh Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn N2 vào ngày 31/12/2016. Sau đó V sử dụng búa đẽo đánh Nguyễn Văn N2 vào lƣng nhƣng không gây thƣơng tích cho N2. D cầm gậy tầm vông, Tèo cầm búa đẽo, bạn D cầm dao mã tấu đuổi chém Nguyễn Văn N1, khi N1 chạy vào phòng ngủ của bà Phạm Thị Y và dùng tay đóng cửa lại, bạn của D dùng dao mã tấu chém vào cánh cửa phòng, lƣỡi dao xuyên qua cánh cửa trúng vào tay phải của N1 làm N1 bị thƣơng tích tỷ lệ 27%.
Tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:
1. Ngƣời nào cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác mà tỷ lệ thƣơng tật từ 11% đến 30% hoặc dƣới 11% nhƣng thuộc một trong trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều ngƣời;
…
i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
k) Để cản trở ngƣời thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thƣơng tích, gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác mà tỷ lệ thƣơng tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhƣng thuộc một trong các trƣờng hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Nhƣ vậy, hành vi bị cáo Lê Thanh V cùng Phan Hùng D, T, L và 03 ngƣời bạn của D sử dụng búa đẽo, dao mã tấu, gậy tầm vông đây là những hung khí nguy hiểm đánh Nguyễn Văn N1, hậu quả việc trên làm bị hại N1 bị thƣơng tích 27% đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thƣơng tích. Bản cáo trạng số 198/QĐ-KSĐT ngày 04/7/2017 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo V cũng nhƣ bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo Lê Thanh V là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe ngƣời bị hại Nguyễn Văn N1 đƣợc pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo V mức án tù có thời hạn tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngƣời công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng nhƣ có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội có một phần lỗi của ngƣời bị hại do bị hại đã có hành vi cầm dao đuổi đánh bị cáo V trƣớc, sau đó dẫn đến việc V rủ các bạn của mình đi đánh trả thù. Tình tiết trên đƣợc quy định tại Điểm p Khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo V có nhân thân tốt, thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo V đồng ý bồi thƣờng cho bị hại N1 số tiền 7.654.000đồng (chi phí tiền thuốc điều trị 3.344.000đồng; chi phí tiền ăn bồi dƣỡng trong những ngày nằm viện 700.000đồng; tiền công do không lao động đƣợc trong khi nằm viện 2.700.000đồng; tiền công lao động cho ngƣời thân chăm sóc khi nằm viện 910.000đồng). Do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với tiền tổn thất tinh thần 150.000.000đồng do bị cáo V và bị hại N1 không thỏa thuận đƣợc việc bồi thƣờng. Căn cứ quy định pháp luật, tỷ lệ tổn thƣơng 27% của bị hại N1. Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo V phải bồi thƣờng tiền tổn thất tinh thần cho bị hại N1 số tiền tƣơng đƣơng với 15 tháng lƣơng cơ bản là 1.300.000đồng x 15 tháng = 19.500.000đồng. Tổng các khoản đƣợc chấp nhận 7.654.000đồng + 19.500.000đồng = 27.154.000đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Phạm Thị Y, Nguyễn Văn N2 không yêu cầu bị cáo V bồi thƣờng thiệt hại về tài sản, sức khỏe. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trong vụ án có đồng phạm do bị cáo V rủ Phan Hùng D, ngƣời tên T, L và 03 ngƣời bạn của D cùng tham gia đánh bị hại Nguyễn Văn N1. Bị cáo V là ngƣời khởi xƣớng chủ mƣu, D, L, T và 03 ngƣời bạn của D và V cùng tham gia với vai trò ngƣời thực hành. Quá trình điều tra không làm việc đƣợc với Phan Hùng D cũng nhƣ không xác định đƣợc nhân thân lai lịch của D, T, L và 3 ngƣời bạn của D. Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tách xác minh xử lý sau là phù hợp. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi đuổi đánh, dùng dao kề cổ của Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn N2 vào ngày 31/12/2016 để buộc V phải đƣa tiền. Hành vi trên của N1, N2 đã đƣợc khởi tố, truy tố về tội Cƣớp tài sản. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo V. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo V phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm, án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh V (tên gọi khác: L) phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
Áp dụng Khoản 2 Điều 104; Điểm p Khoản 1, 2 Điều 46 và Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh V 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2017.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lê Thanh V phải bồi thƣờng cho bị hại Nguyễn Văn N1 số tiền 27.154.000đồng (hai mƣơi bảy triệu, một trăm năm mƣơi bốn nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.
Bị cáo Lê Thanh V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.357.700đồng (một triệu ba trăm năm mƣơi bảy nghìn, bảy trăm đồng).
Bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết bản án.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (01) - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (01); - Trại giam CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Chi cục THADS thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND nơi bị cáo cƣ trú (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT,HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Linh |