vanban.org

Bản án 178/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Trinh T đối với anh Võ Giàu S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2017/HNGĐ-ST
Ngày 12-10-2017
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Phước Công.

2. Ông Huỳnh Tấn Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 335/2017/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2017 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2017/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Trinh T – Sinh năm 1982 (có mặt).

Địa chỉ: Số 292/12, ấp P, xã M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Võ Giàu S – Sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải nguyên đơn chị Trần Trinh T trình bày: Chị và anh S cưới nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, hôn nhân do tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khi sinh con vào năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng đi làm sớm về trễ, không quan tâm gia đình, chị có khuyên ngăn nhiều lần nhưng chồng không thay đổi, nên mâu thuẫn ngày càng nhiều đến tháng 5/2016 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không còn sống chung. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn chị yêu cầu ly hôn với anh Võ Giàu S. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Ngọc Hồng A – Sinh ngày 02/10/2009 (hiện đang sống cùng chị T). Khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản chung: Không có. Về quan hệ nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Võ Giàu S được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh S vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và hòa giải được.

Tại phiên tòa chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: Chị T và anh S kết hôn năm 2008, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tấn Mỹ là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S không quan tâm đến vợ con, vợ chồng không cùng quan điểm và ly thân từ tháng 5.2016. Nay, chị T yêu cầu được ly hôn với anh S. Xét thấy, thời gian vợ chồng ly thân đã lâu nhưng anh S, chị T không tạo điều kiện cho nhau để hàn gắn hạnh phúc và chị T đã xác định không còn tình cảm với anh S, nếu buộc tiếp tục chung sống sẽ không hạnh phúc. Vì vậy, việc chị T yêu cầu ly hôn với anh S là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, nên chấp nhận.

+ Về con chung: Có 01 con chung Võ Ngọc Hồng A, sinh ngày 02.10.2009 hiện đang sống chung với chị T. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu anh Sang cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu A sống chung với chị T, vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần. Hơn nữa, cháu A có nguyện vọng được sống cùng chị T. Để ổn định cuộc sống cho cháu nghĩ nên để chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A. Do chị T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về pháp luật tố tụng: [1] Chị Trần Trinh T xin ly hôn với anh Võ Giàu S, anh S có nơi cư trú ấp P, xã M, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân năm 2015.

Anh Võ Giàu S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Sang là có căn cứ.

- Về pháp luật nội dung: [2] Chị Trần Trinh T xin ly hôn với anh Võ Giàu S. Chị T và anh S có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo chị T trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng thường hay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chồng không quan tâm gia đình, chị có khuyên ngăn nhiều lần nhưng chồng không thay đổi, nên vợ chồng thường hay cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng nhiều, đến tháng 5/2016 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng là không còn sống chung. Theo biên bản xác minh ngày 29/8/2017 tại địa phương cũng phù hợp với lời trình bày của chị T. Trong quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về việc chị T xin ly hôn và triệu tập tham gia phiên họp, hòa giải và tham dự phiên tòa nhưng anh S vẫn không có ý kiến gì và vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh S đã diễn ra trong thời gian dài nguyên nhân chủ yếu do anh S, không quan tâm gia đình nên vợ chồng thường hay cãi nhau, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Trinh T là phù hợp theo quy định pháp luật.

Về quan hệ con chung: Chị Trần Trinh T xác định vợ chồng có 01 con chung tên Võ Ngọc Hồng A – Sinh ngày 02/10/2009 (hiện đang sống cùng chị T). Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau con chung do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng, theo biên bản ghi nhận ý kiến của cháu A ngày 23/8/2017 thì cháu có nguyện vọng sống chung với mẹ. Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ thì chị T có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, đang nuôi cháu A phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần, nhà gần trường học, trạm y tế. Do đó, để chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A là phù hợp pháp luật và nguyện vọng của cháu. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về quan hệ tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về quan hệ nợ chung: Không có.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Trinh T đối với anh Võ Giàu S.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Trinh T được ly hôn với anh Võ Giàu S.

- Về quan hệ con chung: Chị Trần Trinh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Ngọc Hồng A – Sinh ngày 02/10/2009 (hiện đang sống cùng chị T). Anh Võ Giàu S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Trần Trinh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Võ Giàu S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Không có.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận chị Trần Trinh T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì chị Trần Trinh T và anh Võ Giàu S vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Trinh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đã nộp theo biên lai thu số 0014124 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 29 tháng 6 năm 2017. Chị T đã nộp đủ.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ