vanban.org

Bản án 177/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 08/12/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2021/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh; phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù.

Án phí: áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L vận chuyện hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2021/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh; phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2021/HS-PT
Ngày: 08-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Dương Liêm.

Các Thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Văn Tông;

2. Ông Nguyễn Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: ông Lê Hồng phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2021/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn L, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2021/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn L (tên gọi khác :Đ), sinh ngày 03/6/1996 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ hộc vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 1128/QĐ-XPVPHC ngày 04-6-2020 của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 86.500.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu” (chưa nộp phạt); bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn L có một tiền sự về hành vi “Buôn bán hàng cấm”, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 27/02/2021 L điều khiển xe mô tô biển số 70k1-621.76 đến địa điểm nhận thuốc lá điếu nhập lậu thuộc xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, L đã gặp và nhận thuốc lá điếu nhập lậu của một người đàn ông lạ mặt (khoảng 35 tuổi, không rõ họ tên, địa chỉ) với số lượng 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu, bao gồm 250 bao hiệu JET và 250 bao hiệu HERO nhằm mục đích vận chuyển thuê cho một người phụ nữ tên C (khoảng 35 tuổi, không rõ họ tên, địa chỉ) để hưởng thù lao. Người phụ nữ tên C thuê L vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu nói trên đến giao cho các tiệm tạp hóa ở xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh với tiền công là 150.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi L đi đến đoạn đường thuộc ấp L, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng có liên quan.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2021/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L (tên gọi khác Được) về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04 tháng 10 năm 2021, bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, đề nghị: Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/10/2021 bị cáo Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo. Qua xem xét đơn về trình tự, thủ tục kháng cáo của bị cáo phù hợp với quy định tại Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 27/02/2021 Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô đến xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để gặp và nhận thuốc lá điếu nhập lậu của một người đàn ông lạ mặt với số lượng 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu, bao gồm 250 bao hiệu JET và 250 bao hiệu HERO nhằm mục đích vận chuyển thuê cho một người phụ nữ tên C để hưởng thù lao. Người phụ nữ tên C thuê L vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu nói trên đến giao cho các tiệm tạp hóa ở xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh với tiền công là 150.000 đồng. Mặc dù, số lượng thuốc lá điếu nhập lậu mà bị cáo vận chuyển chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định của Bộ luật Hình sự; tuy nhiên trước đó, ngày 04-6-2020, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 1128/QĐ-XPVPHC xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 86.500.000 đồng về hành vi “Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu” (bị cáo chưa nộp phạt), hành vi này chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng:

Hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với hàng hóa bị cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện thực hiện tội phạm. Do đó, hành vi của bị cáo là hành vi vi phạm pháp luật hình sự cần phải xử lý.

Khi quyết định hình phạt cho bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá mức độ nguy hiểm của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời, cũng xem xét đánh giá tính chất của vụ án, ý thức phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên đã quyết định mức hình phạt cho bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình và bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.3] Đối chiếu với quy định tại Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xét thấy ngày 04-6-2020 bị cáo L đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu” với số tiền 86.500.000 đồng nhưng bị cáo chưa chấp hành hình phạt đối với số tiền trên. Từ đó cho thấy, bị cáo là người có nhân thân không tốt, không chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước; đã bị xử phạt hành chính nhưng không thấy hối lỗi về hành vi của mình mà lại tiếp tục thực hiện hành vi được coi là tội phạm (vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu), nên bị cáo L không đáp ứng đủ các điều kiện để hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L, cần giữ nguyên hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo để nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa C cho xã hội

Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm e khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2021/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh; phạt bị cáo Nguyễn Văn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Án phí: áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ