vanban.org

Bản án 177/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đào Công L, Trần Duy P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Công L 02 (hai) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đào Công L, Trần Duy P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2025/HSST
Ngày: 28/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Bá Chương

Ông Chu Mạnh Tường

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

1, Đào Công L, giới tính: Nam, sinh năm 1972, tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi thường trú: Tổ 1, phường Ng, thành phố Q, tỉnh Q; Nơi cư trú : Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; con ông Đào N(chết) và bà Đinh Thị Đ sinh năm 1945; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/12/2019, bị Công an phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong nộp phạt theo quy định.

Bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2024 - có mặt.

2. Trần Duy P, giới tính: Nam, sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi thường trú: ấp Tr, xã X, huyện X, tỉnh Đ; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Phật giáo; con ông Trần T (chết) và bà Bùi Thị Th, sinh năm 1946; chưa có vợ và con

Bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Chí Hòa- phân trại tạm giam khu vực thành phố Thủ Đức - có mặt.

Bị hại: G, địa chỉ: 70 đường Lữ Gia, phường p, Quận C, Thành phố H-Người đại diện theo ủy quyền ông Trần Xuân Dục- có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Đào Công L, Trần Duy P và Tí (không rõ nhân thân lai lịch) đều là những người sống lang thang và làm nghề nhặt ve chai, mua ve chai dạo để kiếm sống. Vào khoảng đầu tháng 10/2024, trong lúc đi nhặt ve chai tại các tuyến đường thuộc phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đào Công L thấy Trần Duy P và Tí đang cùng nhau đào đất phía trước cửa Ngân hàng ACB địa chỉ Số 69 đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. L tri hô “Trộm” thì P và Tí dừng lại, không tiếp tục đào trộm nữa. Qua nói chuyện, L biết được P và Tí đang đào dây điện chiếu sáng để trộm bán lấy tiền tiều xài nên L nảy sinh ý định sẽ đào hệ thống đường dây cáp điện chiếu sáng công cộng lấy trộm dây điện để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng cộng L đã 04 lần thực hiện hành vi lấy trộm dây điện chiếu sáng công cộng, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 07/10/2024, L điều khiển xe đạp hiệu Martin màu xanh lá cây của L đến trạm dừng xe buýt trên đường Võ Nguyên Giáp, khu phố 5, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh gặp Tí. Tại đây L rủ Tí cùng đi đào trộm dây cáp điện thì Tí đồng ý cùng đi và thỏa thuận với L sau khi trộm cắp được dây cáp điện, bán được tiền thì sẽ chia đôi. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, sau khi đi nhặt ve chai về L ghé trạm xe buýt để gọi Tí cùng đi. L điều khiển xe đạp hiệu Martin màu xanh lá cây đi trước, Tí đi bộ theo sau. Khi cả hai đến trước sân Pickleball địa chỉ số 87 đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì dừng lại. L đưa cho Tí 01 cây xà beng (dài khoảng 1,2 mét, bằng sắt, một đầu nhọn, một đầu dẹp). Tí dùng xà beng đào đất trên bồn cây nối tiếp với trụ đèn điện trước số 87, L dùng tay xúc đất sang một bên cho đến khi dây cáp điện dưới đất lộ ra sau đó L và Tí cùng nhau dùng tay kéo sợi dây cáp điện ra khỏi mặt đất. Cả hai kéo ra được một đoạn dây cáp điện dài 25 mét được nối từ trụ đèn trước số 87 đến trụ đèn trước số 93 Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức. Sau khi kéo ra, Tí và L cuốn gọn dây điện lại rồi để lên xe đạp của L. Sau đó, L chở số dây điện trên mang đi bán còn Tí đứng chờ. Khi L đạp xe đến trước cửa pháp viện Minh Đăng Quang địa chỉ Số 505 Võ Nguyên Giáp, phường An Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) chạy xe lôi tự chế chở ve chai. L hỏi người đàn ông có mua dây cáp điện không, người đàn ông nói có mua nên sau khi thỏa thuận giá (không cân ký) người đàn ông trả cho L số tiền 1.800.000 đồng. Khi bán xong, L quay lại chia cho Tí 800.000 đồng, L lấy số tiền 1.000.000 đồng do công cụ đào là của L và L là người chở đi bán. Tí không đồng ý, cãi nhau với L, không chịu đi làm với L nữa. Số tiền 1.000.000 đồng có được sau khi bán dây cáp L đã sử dụng cá nhân hết.

Lần thứ hai: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 19/10/2024, do Tí không chịu đi làm nữa nên L đi một mình. L điều khiển xe đạp hiệu Martin màu xanh lá cây đi đến vỉa hè phía trước công ty Nhà Xinh địa chỉ số 109 đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì dừng lại để thực hiện việc đào trộm dây cáp điện. L sử dụng cây xà beng đào đất trên bồn cây nối tiếp với trụ đèn điện trước số 109, rồi dùng tay đào đất ra. Sau đó L sử dụng một con dao (dài khoảng 40cm, bằng sắt, cán tròn, chiều rộng 6cm) chặt đứt đầu sợi dây cáp điện, cầm đầu dây kéo ra được 01 sợi dây cáp điện dài 20 mét nối tiếp từ trụ đèn trước số 103 đến trước trụ đèn số 109 đường Võ Nguyên Giáp. Sau khi rút ra xong, L quấn lại định để lên xe chở đi thì ông Đỗ Văn Huyện (sinh năm 1976) là bảo vệ dân phố của phường Thảo Điền đi làm về ngang qua phát hiện nên truy đuổi, thấy vậy L bỏ lại sợi dây điện rồi bỏ đi. Ông Huyện lúc này thấy một người khác nữa có biểu hiện nghi vấn nên truy đuổi đến lúc quay lại thì không thấy sợi dây điện đâu nên không thu giữ được.

Lần thứ ba: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/10/2024 L tiếp tục điều khiển xe đạp hiệu Martin màu xanh lá cây đi tìm địa điểm để đào trộm dây cáp điện. Khi đi đến trước bãi đất trống cạnh số 111 Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì dừng lại. Sau đó, L sử dụng cây xà beng đào đất trên bồn cây phía trước bãi đất trống, dùng tay bởi đất ra. Khi thấy sợi dây cáp điện, L dùng con dao mang theo chặt đứt đầu sợi dây cáp điện rồi kéo ra 01 sợi dây cáp điện dài 19 mét. Sau khi rút ra xong, L quấn lại định mang đi bán thì lực lượng bảo vệ dân phố phát hiện truy đuổi nên L bỏ lại sợi dây điện trên vỉa hè rồi bỏ đi. Sau đó anh Nguyễn Viết Viện, là bảo vệ dân phố phát hiện đoạn dây điện do L bỏ lại nên giao nộp cho Công an phường Thảo Điền.

Lần thứ tư: Sau hai lần bị bảo vệ dân phố phát hiện, nên khoảng 22 giờ 00 phút ngày 22/10/2024, L đến trạm dừng xe buýt trên đường Võ Nguyên Giáp, khu phố 5, phường Thảo Điền gặp Trần Duy P. L cho P 02 bịch sữa rồi rủ P cùng đi đào trộm dây cáp điện, khi bán được sẽ chia đôi tiền cho P nên P đồng ý. L hẹn đêm tối sẽ sang gọi P cùng đi. Đến 01 giờ 00 phút ngày 23/10/2024 L điều khiển xe đạp đến trạm chờ xe buýt gọi P rồi điều khiển xe đạp chở P đến trước số 93 đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền thì thả P xuống. L đưa cho P cây xà beng đã chuẩn bị trước để P đào đất trên bồn cây phía trước nối tiếp với trụ đèn trước số 93 còn L dùng tay bới đất ra. Khi đào thấy dây cáp điện, L dùng con dao chặt đứt đầu dây cáp điện rồi kéo ra được 01 đoạn dây cáp điện dài 07 mét từ trụ đèn trước số 93 đến trụ đèn trước số 95 đường Võ Nguyên Giáp. Sau khi kéo xong, bị cáo P tiếp tục dùng xà beng đào đất tại bồn cây nối tiếp trụ đèn trước số 97 đường Võ Nguyên Giáp, L dùng tay bới đất ra. Khi lộ sợi dây cáp điện khỏi mặt đất, L dùng con dao chặt đứt đầu dây cáp điện rồi kéo ra được 01 đoạn dây cáp điện dài 08 mét từ trụ đèn trước số 97 đến số 99 đường Võ Nguyên Giáp. Sau khi lấy được hai đoạn dây cáp điện, L và P quấn lại rồi để lên xe đạp. L nói để L chở đi bán tại vựa ve chai còn P đứng chờ, Khi L đạp xe đến trước quán BBQ PLAN-K trên đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức thì gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch, không phải người L gặp bán trước đó vào ngày 08/10) điều khiển xe lôi tự chế chở ve chai đi ngang qua. L hỏi người đàn ông có thu mua dây cáp điện hay không. Người đàn ông nói có mua nên sau khi thương lượng giá cả (không cân ký) người đàn ông đồng ý trả cho L số tiền 1.700.000 đồng. Sau khi có được tiền, L không chia cho P mà sử dụng cá nhân hết số tiền trên. Còn P đứng chờ không thấy L quay lại đưa tiền cho mình nên đi về.

Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 30/10/2024, L biết địa điểm phía trước số 95 Võ Nguyên Giáp vẫn còn dây điện bên dưới nên tiếp tục điều khiển xe đạp mang theo dụng cụ một mình quay lại địa điểm trên để tiếp tục đào đất lấy trộm dây cáp điện. Khi L dùng xà beng đục xuống cậy được khoảng vài viên gạch thì bị tổ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự Công an phường Thảo Điền tuần tra đến phát hiện nên đưa L về trụ sở công an để làm rõ và sau đó và mời Trần Duy P đến cơ quan Công an để làm việc.

Kết quả xác minh đối với số dây cáp điện bị chiếm đoạt, xác định được dây cáp điện trên đang thuộc quyền sở hữu, quản lý của G, địa chỉ trụ sở 70 Lữ Gia, Phường 15, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Trần Xuân Dục là đại diện theo ủy quyền. Công ty Lữ Gia là đơn vị chịu trách nhiệm thi công dự án điện chiếu sáng công cộng tại tuyến đường Võ Nguyên Giáp, thuộc phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh theo gói thầu với UBND thành phố Thủ Đức, đang thi công, chưa bàn giao cho UBND thành phố Thủ Đức.

Bản Kết L định giá tài sản số 104-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 11/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết L:

25 (hai mươi lăm) mét dây cáp ngầm màu đen thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm vào ngày 08/10/2024 có giá trị 5.750.000 đồng; 20 (hai mươi) mét dây cáp ngầm màu đen thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm vào ngày 19/10/2024 có giá trị 4.600.000 đồng; 19 (mười chín) mét dây cáp ngầm màu đen thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm vào ngày 20/10/2024 có giá trị 4.370.000 đồng; 15 (mười lăm) mét dây cáp ngầm màu đen (gồm 02 đoạn, 01 đoạn dài 07 mét, 01 đoạn dài 08 mét) có thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm có giá trị 3.450.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 18.170.000 đồng. (Bút lục 47-48).

Tại bản cáo trạng số: 137/CT-VKSTPTĐ ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đào Công L, Trần Duy P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vẵn giữ nguyên quan điểm truy tố nghị Hội đồng xét xử xử phạt:

Bị cáo Đào Công L 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Trần Duy P 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Đào Công L đồng ý bồi thường số tiền 18.170.000 đồng đối với giá trị số dây cáp điện bị chiếm đoạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra công an Thành phố Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của các bị cáo Đào Công L, Trần Duy P phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định:

Bị cáo Đào Công L đã 04 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là các sợi dây cáp ngầm của trụ đèn chiếu sáng công cộng do G đang quản lý, thi công lắp đặt, cụ thể: Lần thứ nhất: ngày 08/10/2024, bị cáo Đào Công L cùng với người tên Tí (chưa xác định được lai lịch) đã lén lút chiếm đoạt 25 mét dây cáp ngầm màu đen thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm trị giá 5.750.000 đồng tại trụ đèn trước số 87 đến trụ đèn trước số 93 đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó bị cáo đem đi bán cho một người đàn ông thu mua ve chai được 1.800.000 đồng, bị cáo chia cho Tí 800.000 đồng, còn 1.000.000 đồng L tiêu xài hết; Lần thứ hai: ngày 19/10/2024, bị cáo Đào Công L một mình thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 20 mét dây cáp ngầm màu đen thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm trị giá 4.600.000 đồng tại trụ đèn trước số 103 đến trụ đèn trước số 109 đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, chưa kịp đem đi tiêu thụ thì bị phát hiện nên bị cáo bỏ lại số dây điện và bỏ chạy; Lần thứ ba: ngày 20/10/2024, bị cáo Đào Công L một mình thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 19 mét dây cáp ngầm màu đen thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm trị giá 4.370.000 đồng tại trụ đèn trước số 111 đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, chưa kịp đem đi tiêu thụ thì bị phát hiện nên bị cáo bỏ lại số dây điện và bỏ chạy; Lần thứ tư: ngày 23/10/2024, bị cáo Đào Công L đã cùng với bị cáo Trần Duy P đã lén lút chiếm đoạt 15 (mười lăm) mét dây cáp ngầm màu đen (gồm 02 đoạn, 01 đoạn dài 07 mét, 01 đoạn dài 08 mét) thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm trị giá 3.450.000 đồng tại trụ đèn trước số 97 đến trụ đèn trước số 99 đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó bị cáo đem đi bán cho một người đàn ông thu mua ve chai được 1.700.000 đồng, bị cáo không chia lại cho bị cáo P mà một mình tiêu xài hết số tiền.

Bị cáo Trần Duy P có vai trò giúp sức, cùng với bị cáo Đào Công L thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 15 (mười lăm) mét dây cáp ngầm màu đen (gồm 02 đoạn, 01 đoạn dài 07 mét, 01 đoạn dài 08 mét) thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm trị giá 3.450.000 đồng tại trụ đèn trước số 97 đến trụ đèn trước số 99 đường Võ Nguyên Giáp, phường Thảo Điền, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 23/10/2024, nên phải chịu trách nhiệm chung đối với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.450.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Đào Công L, Trần Duy P đã cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Đào Công L đã thực hiện hành vi phạm tội 04 lần, thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và nhân thân của bị cáo: Xét đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Đào Công L đã thực hiện hành vi phạm tội 04 lần, bị cáo Trần Duy P giúp sức và cùng với bị cáo Đào Công L thực hiện hành vi trộm cắp 01 lần, bản thân bị cáo Đào Công L đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo Trần Duy P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo Đào Công L) và điểm i, s khoản 1 Điều 51 (đối với bị cáo Trần Duy P) của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của bị hại đề nghị các bị cáo bồi thường số tiền 18.170.000 đồng đối với giá trị số dây cáp điện bị chiếm đoạt. Tại phiên tòa bị cáo Đào Công L đồng ý bồi thường cho G 18.170.000 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện nên ghi nhận.

[6]. Về vật chứng vụ án:

- 19 (mười chín) mét dây cáp ngầm màu đen thông số Cu/XLPE/PVC/DSTA/PVC 4 x 25mm vào ngày 20/10/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vậy chứng, trả lại cho ông Trần Xuân Dục, đại diện theo ủy quyền của G là phù hợp.

- 01 (một) con dao (dài khoảng 40cm, bằng sắt, cán tròn bề rộng 6cm); 01 (một) cây xà beng (dài khoảng 1,2 mét, bằng sắt, một đầu nhọn, một đầu dẹp); 01 (một) áo thun không cổ màu đen, 01 (một) quần dài kiểu rằn ri màu xanh rêu của bị cáo Trần Duy P mặc đi trộm cắp tài sản vào ngày 23/10/2024 thì cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) xe đạp hiệu Martin màu xanh lá cây đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A3s, thu của bị cáo Đào Công L, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội thì cần tịch thu sung công.

[7]. Về án phí: Cần buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo cáo Đào Công L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 454.250 (bốn trăm năm mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi) đồng.

[8]. Đối với người tên Tí và người đàn ông mua số dây cáp mà bị cáo L và bị cáo P trộm cắp được, hiện chưa xác minh được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đào Công L, Trần Duy P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đào Công L 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2024.

1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Duy P 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2024.

2. Về phần dân sự: Căn cứ vào Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015, ghi nhân sự tự nguyện của bị cáo Đào Công L bồi thường cho G 18.170.000 (mười tám triệu một trăm bảy mươi nghìn) đồng.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao (dài khoảng 40cm, bằng sắt, cán tròn bề rộng 6cm); 01 (một) cây xà beng (dài khoảng 1,2 mét, bằng sắt, một đầu nhọn, một đầu dẹp); 01 (một) áo thun không cổ màu đen, 01 (một) quần dài kiểu rằn ri màu xanh rêu.

Tịch thu sung công vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe đạp hiệu Martin màu xanh lá cây đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A3S.

(Phiếu nhập kho số NK25/203C ngày 26/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Về án phí: Áp dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí tòa án: Buộc các bị cáo Đào Công L, Trần Duy P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đào Công L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 454.250 (bốn trăm năm mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vằng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong ghạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bán án được niêm yết hợp lệ

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, điều 7a, điều 7b, điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ