vanban.org

Bản án 177/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 13/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Lương Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2023/HSST
Ngày: 13 – 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Di

Bà Nguyễn Thị Bích Lam

Thư ký phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong

Đại diện Viện kiểm sát huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 164/2022/HSST, ngày 25/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2023/QĐXXST-HS, ngày 28/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Đ (tên gọi khác: Cò Ma); giới tính: Nam; Sinh ngày 20/5/2006 tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi Lương Đ ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Phạm A 03, xã P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề Huỳnh Ngệp: không; Trình độ học vấn: 04/12; Cha: Lương H (đã chết) và Mẹ: Nguyễn Th, sinh năm 1990; vợ, con: chưa có; Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 06/5/2023 bị Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú và có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Huỳnh Ng, sinh năm 2006; Địa chỉ: Phạm A 03, xã P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Nguyễn Th, sinh năm 1990; Địa chỉ: Phạm A 03, xã P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Huỳnh H, sinh năm 1979; Địa chỉ: Phạm A 03, xã P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm A, sinh năm 1991, Địa chỉ: khu phố 10, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Nguyễn Trường Duy – Trưởng chi nhánh trợ giúp pháp lý số 03 - thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Thuận (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 03/8/2023 Lương Đ đi ngang qua nhà của Huỳnh Ng nhìn thấy nhà đóng cửa nhưng không khóa chỉ móc hờ, xung quanh không có ai nên Lương Đ lén lút mở cửa đột nhập vào trong nhà lục lọi tìm kiếm tài sản bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Lương Đ phát hiện trên bàn khu vực bếp có để 01 laptop nhãn hiệu Lenovo Legion 5 màu xanh đen đang cắm sạc, Lương Đ rút dây sạc lấy trộm máy laptop và dây sạc đem về nhà cất giấu.

Khoảng 15 giờ ngày 04/8/2023 Lương Đ sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn N” nhắn tin qua mạng xã hội facebook cho Phạm A hỏi bán laptop, Phạm A hỏi lại “laptop ở đâu mà bán” thì Lương Đ trả lời “dạ của em” thì Phạm A đồng ý mua. Phạm A điều khiển xe mô tô đến nơi chở Lương Đ đi lấy laptop và dây sạc về nhà Phạm A ở thị trấn L, tại đây Phạm A đồng ý mua với giá 500.000 đồng, Lương Đ lấy tiền mua ma túy và chơi game hết. Trước khi bán laptop Lương Đ mở máy laptop lên xem và biết chủ sở hữu có tên tài khoản facebook là “Huỳnh Ng Gia”, sau đó vài ngày Lương Đ lên mạng xã hội facebook nhắn tin cho người có tên tài khoản facebook là “Huỳnh Ng Gia” nói laptop đang ở chỗ Lương Đ muốn chuộc lại thì chuyển khoản cho Lương Đ 1.000.000 đồng, đồng thời cho số tài khoản ngân hàng của Lương Đ nhưng Huỳnh Ng không chuyển tiền. Sau đó Lương Đ yêu cầu Huỳnh Ng gửi thẻ nạp tiền điện thoại qua trước cho Lương Đ thì Lương Đ trả lại laptop, Huỳnh Ng đồng ý mua 03 thẻ cào mạng Viettel mệnh giá 100.000 đồng cào mã số rồi chụp ảnh gửi qua cho Lương Đ nhưng Lương Đ không trả lại laptop nên Huỳnh Ng đã làm đơn tố cáo gửi cho cơ quan Công an.

Ngày 24/8/2023 Công an xã P, huyện Tuy Phong mời Lương Đ làm việc, Lương Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời dẫn Công an đến nhà Phạm A thu giữ chiếc laptop hiệu Lenovo Legion 5.

Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản số 94/KL – HĐĐG ngày 07/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phong, kết luận:

01 chiếc laptop hiệu Lenovo Legion 5, trị giá 23.990.000 đồng/ chiếc x 70% = 16.793.000 đồng.

01 bộ dây sạc laptop Lenovo Legion 5, trị giá 550.000 đồng/ bộ x 70% =385.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá: 17.178.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Tại phiên tòa Viện kiểm sát bổ sung tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 theo Cáo trạng số: 170/CT –VKSTP - HS, ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lương Đ từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị buộc bị cáo nộp lại số tiền 300.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo thống nhất với cáo trạng truy tố, việc bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51, thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, gia đình khó khăn, mồ côi cha, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 nên đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án 06 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện Tuy Phong, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 22 giờ ngày 03/8/2023 tại Phạm A 03, xã P, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, Lương Đ đã lén lút lấy trộm 01 laptop hiệu Lenovo Legion 5 và 01 bộ dây sạc tổng trị giá 17.178.000 đồng của Huỳnh Ng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo nhận biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền mua ma túy sử dụng và chơi game bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của người bị hại. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý Huỳnh Ngêm minh.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít Huỳnh Ngêm trọng, Hội đồng xét xử sẽ xem xét theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo ở mức nhẹ hơn so với mức áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương tự.

Trên cơ sở căn nhắc các tình tiết của vụ án và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, qua đó nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.

Đối với luận cứ của người bào chữa cho bị cáo, xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, sau khi phạm tội bị cáo có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý bị cáo Huỳnh Ngêm minh mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo, do đó không chấp nhận luận cứ của người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 laptop hiệu Lenovo Legion 5 và 01 bộ dây sạc, sau khi định giá cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Tuy Phong đã trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định, nên không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo chiếm đoạt của bị hại, bị hại không yêu cầu nhận lại, nên buộc bị cáo phải nộp lại để sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Lương Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lương Đ 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Buộc bị cáo nộp số tiền 300.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại. Báo cho họ biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ