vanban.org

Bản án 177/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2023.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K bồi thường cho chị Châu Thái N số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "177 Ngày 28-11-23 Nguyễn Hoàng Lê K 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2023/HS-ST
Ngày 28 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kính

2. Bà Đỗ Trương Hồng Thảo

- Thư ký phiên tòa:

+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Trịnh Sơn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Dương Quốc Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Đinh Viết Thành - Kiểm sát viên.

+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Khắc Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 242/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; điểm cầu thành phần đặt tại Trại tạm giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 401/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng Lê K; sinh năm 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (nơi thường trú: 129/4 đường X, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 106B đường Y, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng M (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim H; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 31/10/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 01 năm, kể từ 30/10/2022 (Quyết định số 389/QĐ-UBND).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2023 đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

1. Chị Châu Thái N, sinh năm: 1996; nơi cư trú: 103K3/11B đường F, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Quang H1, sinh năm: 1995; nơi cư trú: 103K3/11B đường F, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

3. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1958; nơi cư trú: 103K3/9A đường F, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng Lê K là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, nghiện ma túy. Do cần tiền tiêu xài, K tìm tài sản sơ hở để trộm cắp, như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 20/7/2023, K từ nhà (địa chỉ số: 106B đường Y, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh) đi bộ ra ngoài tìm tài sản người khác sơ hở để lấy trộm. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến trước nhà 103K3/9A đường F, Phường X1, Quận 8 (nhà của bà Nguyễn Thị H2), K thấy cửa kéo của nhà không khóa, khe cửa hở khoảng 10cm, thấy vậy K bước đến dùng hai tay kéo nhẹ hai cánh cửa qua hai bên. Lúc này, khe cửa hở khoảng 50cm đủ để K nghiêng người bước vào nhà. K đứng sát cửa quan sát thấy không có người trong nhà, dưới nền gạch có một chiếc điện thoại di động cảm ứng màu đen (không rõ nhãn hiệu), cách chỗ K đứng khoảng 1,5m. K bước tới dùng tay phải lấy chiếc điện thoại rồi bỏ vào túi quần bên trái, sau đó nhanh chóng bỏ đi ra khỏi căn nhà, K không kéo cửa lại.

Sau đó, K tiếp tục đi nơi khác tiếp tục tìm tài sản lấy trộm, khi đến trước căn nhà 103K3/11B đường F, Phường X1, Quận 8 (nhà của vợ chồng anh Nguyễn Quang H1 và chị Châu Thái N), K tiến đến gần cửa và kéo thử thì phát hiện cửa nhà không khóa nên K kéo cửa mở ra một đoạn khoảng 50cm, nghiêng người đi vào bên trong căn nhà. K đứng sát cửa quan sát thấy không có người trong nhà và nhìn thấy 02 chiếc điện thoại di động cảm ứng hiệu SAMSUNG (01 máy màu xanh, 01 máy màu vàng) tại vị trí từ cửa nhìn vào phía bên phải cách cửa khoảng 02m, đang sạc điện để trên nền gạch nên K đi đến dùng tay phải lấy 02 điện thoại bỏ vào túi quần bên trái rồi nhanh chóng đi ra khỏi nhà, không kéo cửa nhà lại.

Sau khi ra khỏi căn nhà này, K đi bộ về nhà 103K3/9A đường F, Phường X1, Quận 8. Đến nhà, K kiểm tra mới biết đặc điểm 03 điện thoại này gồm: 01 điện thoại màu đen không rõ nhãn hiệu, kiểu máy i14 pro Max lấy tại nhà 103K3/9A đường F, Phường X1, Quận 8; 02 điện thoại di động lấy tại nhà 103K3/11B đường F, Phường X1, Quận 8 gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Pro, màu xanh ngọc, ốp lưng màu xanh bên trong có để 04 (bốn) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (tổng số tiền là 2.000.000 đồng) của chị N và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Pro, màu vàng của anh H1.

Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, K mượn xe đạp của người thân chạy đến cầu Nhị Thiên Đường, Phường 12, Quận 8 để tìm người bán các điện thoại trộm được. Khi đến trên cầu thì K gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch), đi xe Wave màu đỏ (không rõ biển số), K hỏi người đó có mua điện thoại không. Sau khi Kha đưa 03 điện thoại trộm được cho người đó xem thì người đó đồng ý mua. Kha đồng ý bán 02 điện thoại SAMSUNG J7 Pro với giá 1.000.000 đồng, người đó trả cho K 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Còn máy điện thoại còn lại người đàn ông đó trả giá mua 50.000 đồng. Do giá mua thấp nên K không bán mà bỏ vào túi quần trái mang về. Số tiền trộm được và tiền bán điện thoại có được K đã tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 20/7/2023, chị Châu Thái N thức dậy, phát hiện bị mất 02 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Pro. Anh H1 đi qua nhà hàng xóm kiểm tra camera, thì phát hiện một camera tại nhà 103K3/19 đường F, Phường X1, Quận 8 ghi nhận vào khoảng 03 giờ 07 phút ngày 20/7/2023, có hình ảnh một thanh niên mặc áo thun màu trắng ngắn tay, quần jean ngắn màu xanh đi ngang trong lúc trời đang mưa nên anh H1 ghi nhận lại hình ảnh đó và đi tìm. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, anh H1 phát hiện một nam thanh niên có đặc điểm giống với người trong hình ảnh camera là Nguyễn Hoàng Lê K. Sau khi hỏi K có lấy trộm điện thoại và tiền của chị N và anh H1 không thì K không thừa nhận. Sau đó, anh H1 báo cho bà Nguyễn Thị H2 (là hàng xóm của anh H1) đến nhà anh H1. Tại đây, bà H2 xác nhận điện thoại K đang giữ là điện thoại của bà H2 vừa bị mất trộm vào rạng sáng ngày 20/7/2023. Chị N, anh H1 và bà H2 trình báo sự việc đến Công an Phường 14, Quận 8 để giải quyết. Công an Phường 14, Quận 8 đưa những người có liên quan về trụ sở, lập hồ sơ ban đầu và cho chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Nguyễn Hoàng Lê K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai của K phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2023, Hội đồng định giá tài sản Quận 8 xác định: 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, màu đen, kiểu máy i14 pro Max, số IMEI1: 359455040519699, số IMEI2: 359455040519707 (tài sản chiếm đoạt của bà H2) có giá trị vào thời điểm bị chiếm đoạt ngày 20/7/2023 là 250.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Pro, màu vàng (tài sản chiếm đoạt của anh H1) có giá trị vào thời điểm bị chiếm đoạt ngày 20/7/2023 là 440.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Pro, màu xanh ngọc (tài sản chiếm đoạt của chị Ngọc) có giá trị vào thời điểm bị chiếm đoạt ngày 20/7/2023 là 550.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị cáo K chiếm đoạt của các bị hại trong vụ án là 3.240.000 đồng (trong đó gồm cả số tiền 2.000.000 đồng trong ốp lưng điện thoại của chị N).

Vật chứng trong vụ án: 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, màu đen, kiểu máy i14 pro Max, số IMEI1: 359455040519699, số IMEI2: 359455040519707. Qua điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị H2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà H2.

Dữ liệu điện tử thu giữ: 01 thẻ nhớ hiệu MICRO SD màu đen, dung lượng 4GB, là thẻ nhớ anh H1 cung cấp cho Cơ quan điều tra, bên trong có đoạn video ghi nhận lại hình ảnh của K sau khi lấy trộm tài sản của bà H2, anh H1 và chị N.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bà Nguyễn Thị H2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu K bồi thường thiệt hại.

- Chị Châu Thái N yêu cầu K bồi thường số tiền 2.000.000 đồng trong ốp lưng điện thoại và không yêu cầu bị cáo K bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị K chiếm đoạt.

- Anh Nguyễn Quang H1 không yêu cầu bị cáo K bồi thường giá trị chiếc điện thoại bị K chiếm đoạt không thu hồi được.

Tại bản Cáo trạng số 213/CT-VKS-Q8 ngày 03/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, dữ liệu điện tử là 01 thẻ nhớ hiệu MICRO SD màu đen, dung lượng 4GB chứa đựng dữ liệu đoạn video ghi nhận lại hình ảnh của K sau khi lấy trộm tài sản của bà H2 được anh H1 giao nộp và không yêu cầu nhận lại hiện đang lưu giữ theo hồ sơ nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại Châu Thái N số tiền 2.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị H2 đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì khác nên không đề cập giải quyết; bị hại Nguyễn Quang H1 và Châu Thái N không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị 02 chiếc điện thoại bị K chiếm đoạt nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định:

Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 20/7/2023, tại nhà 103K3/9A đường F, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H2 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, màu đen, kiểu máy i14 proMax, có trị giá là 250.000 đồng.

Tiếp sau đó, bị cáo tiếp tục lén lút vào nhà 103K3/11B đường F, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm đoạt của anh Nguyễn Quang H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Pro, màu vàng trị giá là 440.000 đồng; chiếm đoạt của chị Châu Thái N 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG J7 Pro, màu xanh ngọc có trị giá là 550.000 đồng và số tiền 2.000.000 đồng được để bên trong ốp lưng điện thoại.

Tổng trị giá các tài sản bị cáo Kha chiếm đoạt của các bị hại là 3.240.000 đồng.

Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Bị cáo nghiện ma túy và đang bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, xét qua quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt của bị hại H2 đã được thu hồi và trả lại cho bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, màu đen, kiểu máy i14 pro Max, số IMEI1: 359455040519699, số IMEI2: 359455040519707. Ngày 02/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà H2 là phù hợp quy định pháp luật.

Dữ liệu điện tử: 01 thẻ nhớ hiệu MICRO SD màu đen, dung lượng 4GB chứa đựng dữ liệu đoạn video ghi nhận lại hình ảnh của K sau khi lấy trộm tài sản của bà H2 được anh H1 giao nộp và không yêu cầu nhận lại hiện đang lưu giữ theo hồ sơ nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Châu Thái N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (là tiền để bên trong ốp lưng điện thoại bị K chiếm đoạt). Xét thấy, thiệt hại xảy ra là do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và yêu cầu của bị hại là phù hợp. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại N. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Ngọc số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng.

Bị hại Nguyễn Thị H2 xác định đã được đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị hại Nguyễn Quang H1, bị hại Châu Thái N xác định không yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị 02 chiếc điện thoại bị K chiếm đoạt (không thu hồi được), xét đây là ý chí tự nguyện và quyền tự định đoạt của anh H1, chị N, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với người đàn ông mua 02 điện thoại SAMSUNG J7 Pro từ K, do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có căn cứ để xử lý và thu hồi vật chứng, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2023.

- Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, 468, 589 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K bồi thường cho chị Châu Thái N số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Lê K nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ