vanban.org

Bản án 177/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo Phạm Văn H. Giữ nguyên quyết định c a ản án hình sự sơ th m về hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn H. Tuyên ố ị cáo Phạm Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm văn H phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Căn c điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2023/HS-PT
Ngày: 21-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mỹ

Ông Phạm Minh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc th m thụ lý số: 138/2023/TLPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Văn H. Do c kháng cáo c a ị cáo Phạm Văn H đối với ản án hình sự sơ th m số: 17/2023/HS-ST ngày 07 tháng 4 năm 2023 c a Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.

- Bị cáo có kháng cáo: Phạm Văn H, sinh ngày 01/7/2003, tại tỉnh Đồng Tháp; đăng ký hộ kh u thường trú và cư trú tại: Số B, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; con ông Phạm Văn H1 và bà Phan Thị Bích T; chưa c vợ, con; tiền án, tiền sự: Không c ; Ngày 23/12/2022 ị Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 11 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo ản án hình sự sơ th m số 60/2022/HS-ST, chấp hành hình phạt tù từ ngày 07/11/2022 đến nay tại Trại giam P2, địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang; Hiện bị cáo đang ị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ và có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Phạm Văn H là đối tượng không c nghề nghiệp n định. Để c tiền tiêu xài cá nhân, vào các ngày 15, 16, 17 và 18/7/2021, H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại xã B và xã Đ c a huyện L, để đem án lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong quá trình Cơ quan điều tra thụ lý giải quyết vụ án, H tiếp tục thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác, cụ thể như sau:

Thạch Thị Mỹ H2, sinh ngày 24/02/2007, địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang là con c a anh Cao Văn Q, sinh năm 1982, cư trú tại ấp A, xã Đ, huyện L. Nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022, H2 r Nguyễn Chí Đ, sinh năm 2002, địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau là ạn c a H2 về nhà anh Q chơi.

Trong thời gian lưu trú tại nhà anh Q, thì H2 c quen iết và nảy sinh tình cảm với Đặng Hoàng T1, sinh ngày 08/9/2007, cư trú tại ấp A, xã Đ, huyện L, nên giữa T1 và Đ xảy ra mâu thuẫn. Chiều ngày 03/02/2022, T1 hẹn Đ đến cầu chữ Y (cách nhà anh Q khoảng 500m) để nói chuyện, T1 r thêm Phạm Văn H và Kiều P đi cùng. Đến nơi thì T1 hỏi Đ tại sao đánh H2, Đ không thừa nhận đánh H2, hai bên có lời qua tiếng lại, sau đ tất cả đi về. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, anh Cao Văn Q nghe nói lại chuyện Đ bị nhóm c a T1 và H gây thương tích ở khu vực cầu C, nên gọi điện kêu Nguyễn Chánh K là họ hàng với anh Q) chở H đến nhà c a anh Q để nói chuyện hòa giải mâu thuẫn giữa T1, H, Kiều P với Đ. Khoảng 14 giờ ngày 04/02/2022, Phạm Văn T2 t ch c tiệc nhậu tại nhà thuộc ấp A, xã Đ, huyện L, trong tiệc nhậu c K, H, P, Hồ Văn T3, Huỳnh Quốc T4, Phạm Văn T5, Nguyễn Trọng P1, Trương Nguyễn Ngọc H3, Trương Nguyễn Ngọc T6. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, K chở Phạm Văn H đến nhà c a anh Q, đến nơi thì H điện thoại cho Đặng Hoàng T1 đến nhà anh Q để nói chuyện hòa giải mâu thuẫn giữa T1, H, P với Đ. Khi thấy K chở H đến nhà anh Q, thì nh m ạn c a H gồm: P, T3, T4, T5, P1, H3, T6, T2 c ng tự đi theo xem có chuyện gì hay không.

Tại nhà anh Q, thì anh Q đ ng ra hòa giải mâu thuẫn giữa H, T1, P và Đ, nh m ạn c a H đ ng ngoài đường xem việc giải quyết mâu thuẫn c a anh Q. Sau khi hòa giải xong, anh Q c dùng tay đánh vào mặt c a H2 03 cái, thấy H2 ị đánh, P n i “Ông ênh người ngoài mà đánh con ông”, sau đ P và H đi ra lộ đ ng. Khi đ ng ngoài lộ, thì H phát hiện 01 con dao Thái Lan nằm cặp lộ trên khoảng đất trống phía trước nhà anh Cao Văn G em ruột anh Q), Hồ nhặt ỏ vào túi quần, với mục đích là dùng để phòng thân. Lúc H nhặt con dao không ai nhìn thấy.

Do t c giận khi nghe P n i, nên anh Q từ trong nhà đi ra dùng tay đánh P, làm P té ngã phía trước nhà anh Cao Văn G, thấy P bị đánh, nên H đi lại đ ng đối diện với anh Q, tay phải cầm dao đâm ngang theo hướng từ phải sang trái 01 cái trúng vào hông trái c a anh Q gây thương tích. Anh Q chạy vào nhà c a anh G. Lúc này c một người, qua điều tra chưa xác định được danh tính trong nh m c a Hồ cầm vỏ chai ia Sài G1 ne m vào cửa nhà anh Q trúng cây cột làm v chai bia, mãnh vỏ chai ia trúng vào vùng mặt chị Cao Thị Xuyến E em ruột anh Q), sinh năm 1990, cư trú tại ấp A, xã Đ, huyện L. Theo anh Q khai: Trước khi H dùng dao đâm anh Q, thì Đặng Hoàng T1 và Huỳnh Quốc T4 đ ng gần anh Q, anh Q ị một người không r là T1 hay T4 đã du ng n n ảo hiểm đánh 01 cái trúng vùng đầu anh Q.

Sau đ , H kêu P chở H về nhà c a T2. Khi đâm anh Q xong, thì H đã ném con dao xuống rạch B, cách nơi gây thương tích cho anh Q khoảng 05m và ỏ trốn đến ngày 07/11/2022, thì ị ắt theo Quyết định truy nã c a Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L. Anh Q được người thân đưa đi cấp c u và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ đến ngày 15/02/2022 thì xuất viện.

Ngày 05/02/2022, anh Cao Văn Q1 (cha ruột c a anh Cao Văn Q) phát hiện dưới rạch Ba Chôm 01 (một) con dao dài 22,02cm, phần cán nhựa màu đen, dài 10cm, trên cán dao có chữ KIWI, phần lư i dao dài 12,02cm, lư i dao bị cong, nghi là con dao mà H dùng để đâm anh Q, nên ông Q1 giao nộp cho Cơ quan Công an.

Ngày 05/02/2022, Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường và đã thu giữ tài liệu, đồ vật sau: Mãnh v th y tinh và vỏ chai bia S; 01 m ảo hiểm màu vàng, trên m c chữ Mo ifone; 01 vỏ nhựa m ảo hiểm màu hồng, đã ị n t.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 105/TgT ngày 15/3/2022 c a Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Đ kết luận: Anh Cao Văn Q bị sẹo vết thương mềm vùng hông trái, kích thước nhỏ; 02 sẹo dẫn lưu vùng hông trái, hố chậu trái, kích thước nhỏ; Sẹo m giữa bụng trên dưới rốn, kích thước trung bình; Th ng đại tràng trái đã xử trí khâu lỗ th ng tạm n. T lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định c a anh Q là 41% theo nguyên tắc cộng lùi. Sẹo m và sẹo dẫn lưu là do quy trình điều trị, t n thương còn lại là do vật sắc nhọn gây ra, cơ chế hình thành t n thương do ngoại lực tác động trực tiếp từ ngoài vào.

Ngày 05/3/2022, anh Q c đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi c a Phạm Văn H đã gây thương tích cho anh.

Ngày 29/4/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện L cho anh Cao Văn Q tiến hành nhận dạng hình ảnh người đã gây thương tích cho anh, kết quả: Anh Q xác định Phạm Văn H là người đã gây thương tích cho anh Q. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cho anh Cao Văn Q nhận dạng hung khí mà Phạm Văn H sử dụng để đâm anh Q gây thương tích, kết quả: Anh Q xác định con dao do ông Cao Văn Q1 giao nộp c đặc điểm là con dao Thái Lan dài 22,02cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10cm, trên cán dao c chữ KIWI, lư i dao bằng kim loại dài 12,02cm m i nhọn, chiều rộng lư i dao là 2,3 cm; lư i dao ị cong là con dao mà H đã gây thương tích cho anh Q.

Ngày 14/12/2022, Cơ quan điều tra cho Phạm Văn H tiến hành nhận dạng hung khí mà H dùng để đâm anh Cao Văn Q gây thương tích, kết quả: Hồ xác định con dao do ông Cao Văn Q1 giao nộp c đặc điểm là con dao Thái Lan dài 22,02cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10cm, trên cán dao c chữ KIWI, lư i dao bằng kim loại dài 12,02cm m i nhọn, chiều rộng lư i dao là 2,3 cm; lư i dao ị cong là con dao mà H đã gây thương tích cho anh Q.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây thương tích cho anh Q, thì H đã tác động gia đình ồi thường cho anh Q t ng số tiền là 70.000.000 đồng, anh Q đã nhận đ tiền và không yêu cầu H ồi thường gì thêm. Ngày 20/4/2022, anh Cao Văn Q c đơn ãi nại, không yêu cầu truy c u trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn H.

Tại ản án hình sự sơ th m số: 17/2023/HS-ST ngày 07/4/2023 c a Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự: Xử phạt ị cáo Phạm Văn H 06 sáu) năm tù.

- Áp dụng Điều 56 c a Bộ luật hình sự: T ng hợp với hình phạt 11 mười một) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ th m số: 60/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 c a Tòa án nhân dân huyê n Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Buộc ị cáo Phạm Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 06 sáu) năm 11 mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2022.

Ngoài ra, án sơ th m còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật ch ng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13 tháng 4 năm 2023, ị cáo Phạm Văn H c đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát iểu quan điểm: Hành vi c a bị cáo Phạm Văn H bị Tòa án cấp sơ th m quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 c a Bộ luật hình sự là c căn c , đúng người, đúng tội và đúng quy định c a pháp luật, m c hình phạt 06 năm tù mà án sơ th m đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội c a bị cáo. Sau khi án sơ th m tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được ch ng c , tài liệu nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà án sơ th m đã áp dụng cho ị cáo. Do đ , đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a ị cáo, giữ nguyên phần quyết định c a ản án sơ th m về hình phạt đối với ị cáo Phạm Văn H.

Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc th m, ị cáo Phạm Văn H đã thừa nhận toàn ộ hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận tội c a ị cáo phù hợp với lời khai c a ị cáo trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa sơ th m, phù hợp với lời khai c a người bị hại, người liên quan, người làm ch ng và các ch ng c khác trong hồ sơ vụ án, đ cơ sở để xác định: Do ênh vực bạn nên vào khoảng 14 giờ ngày 04/02/2022 bị cáo đã có hành vi dùng con dao Thái Lan dài 22,02cm cán dao ằng nhựa dài 10cm, lư i dao ằng kim loại dài 12,02cm m i nhọn, chiều rộng lư i dao 2,3cm) đâm 01 cái trúng vào hông ên trái c a bị hại Cao Văn Q gây thương tích với t lệ thương tật là 41%, tại thời điểm giám định.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi c a ị cáo Phạm Văn H là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến s c khỏe c a người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, c thể chất, tinh thần phát triển ình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận th c được pháp luật, c đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn c a người khác mà bị cáo đã dùng dao thái lan là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Q. Bị cáo nhận th c được dao thái lan là hung khí nguy hiểm, nhận th c được việc dùng dao thái lan đâm vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng ị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho ị hại Q ị thiệt hại về s c khỏe với t ng t lệ thương tật tại thời điểm giám định là 41%; ch ng tỏ việc phạm tội c a ị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

Tòa án cấp sơ th m đã xét xử ị cáo Phạm Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 c a Bộ luật hình sự là c căn c , đúng người, đúng tội và đúng quy định c a pháp luật. M c hình phạt 06 năm tù mà án sơ th m đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội c a bị cáo. Sau khi án sơ th m tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà án sơ th m đã áp dụng cho ị cáo. Do đ , Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt c a ị cáo, giữ nguyên phần quyết định c a ản án sơ th m về hình phạt đối với ị cáo Phạm Văn H.

Xét đề nghị c a vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn c căn c và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do kháng cáo c a ị cáo không được chấp nhận nên bị cáo Phạm Văn H phải chịu án phí hình sự phúc th m theo luật định.

Các phần khác c a quyết định ản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn c điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo Phạm Văn H. Giữ nguyên quyết định c a ản án hình sự sơ th m về hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn H.

2. Tuyên ố ị cáo Phạm Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn c điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự: Xử phạt ị cáo Phạm Văn H 06 sáu) năm tù.

- Căn c Điều 56 c a Bộ luật hình sự: T ng hợp với hình phạt 11 mười một) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ th m số 60/2022/HS-ST ngày 23/12/2022 c a Tòa án nhân dân huyê n Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Buộc ị cáo Phạm Văn H phải chấp hành hình phạt chung c a hai ản án là 06 sáu) năm 11 mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/11/2022.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Buộc ị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc th m.

4. Các phần khác c a quyết định ản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc th m c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ