vanban.org

Bản án 177/2023/DS-ST — Dân sự

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 10/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H.

Buộc ông Nguyễn Thanh D và bà Lưu Thị P trả cho ông Phạm Văn H, bà Tiêu Thị T số tiền 133.146.000 đồng (một trăm ba mươi ba triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông H, bà T cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phải trả thì hàng tháng ông D, bà P còn p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2023/DS-ST
Ngày 10 – 8 – 2023
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Công Đoàn.

Ông Hồ Thanh Phong.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 401/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 6 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1958. Địa chỉ cư trú: Ấp T1, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh D và bà Lưu Thị P. Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan: Bà Tiêu Thị T, sinh năm 1961. Địa chỉ cư trú: Ấp T1, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa của ông Phạm Văn H, thể hiện:

Trong thời gian từ năm 2014-2017, ông H bán thuốc, thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản cho ông Nguyễn Thanh D, bà Lưu Thị P, thỏa thuận sau khi thu hoạch tôm sẽ thanh toán; tuy nhiên quá trình thực hiện, ông D, bà P không thanh toán đầy đủ nên đến năm 2017 khi không tiếp tục nuôi tôm thì ông D, bà P còn thiếu tổng số tiền 133.146.000 đồng. Mặc dù nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng ông D, bà P không thực hiện nên ông H khởi kiện yêu cầu trả lại số tiền trên.

* Đối với ông Nguyễn Thanh D và bà Lưu Thị P: Mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng về yêu cầu khởi kiện của ông H nhưng ông D, bà P không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của ông H.

* Lời trình bày tại phiên tòa của bà Tiêu Thị T, thể hiện: Bà là vợ của ông Phạm Văn H, chưa có quyết định/bản án có hiệu lực của Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân của bà và ông H nên giữa bà và ông H đang tồn tại quan hệ hợp pháp; khoản nợ của ông D, bà P là nợ chung của vợ chồng nên yêu cầu ông D, bà P phải trả số nợ trên cho vợ chồng bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật: Ông Phạm Văn H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh D và bà Lưu Thị P trả số tiền mua bán thuốc, thức ăn thủy sản nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hợp đồng mua bán thuộc thẩm quyền của Tòa án theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông D, bà P đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự này là phù hợp.

Theo biên bản làm việc xác nhận công nợ và cam kết thanh toán ngày 26/12/2022 thì ông D còn thiếu tổng số tiền 133.146.000 đồng. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và ông D, bà P không có ý kiến phản đối nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên ông D, bà P còn thiếu tổng số tiền 133.146.000 đồng nên phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo Điều 440 của Bộ luật Dân sự nên ông H khởi kiện yêu cầu ông D, bà P (vợ chồng) cùng có nghĩa vụ trả khoản nợ trên là có căn cứ, được chấp nhận.

Khoản nợ của ông D, bà P phát sinh trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp của ông H, bà T nên bà T yêu cầu ông D, bà P có trách nhiệm trả cho bà và ông H số nợ còn thiếu là phù hợp với Điều 60 của Luật Hôn nhân và gia đình. Ông H đồng ý ông D, bà P phải có nghĩa vụ trả lại cho ông và bà T số tiền còn thiếu là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ông D, bà P phải chịu số tiền là: 133.146.000 đồng x 5% = 6.657.300 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 440 của Bộ luật Dân sự; Điều 60 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn H.

Buộc ông Nguyễn Thanh D và bà Lưu Thị P trả cho ông Phạm Văn H, bà Tiêu Thị T số tiền 133.146.000 đồng (một trăm ba mươi ba triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông H, bà T cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phải trả thì hàng tháng ông D, bà P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Thanh D, bà Lưu Thị P phải chịu 6.657.300 đồng (sáu triệu sáu trăm năm mươi bảy nghìn ba trăm đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn được tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ