- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 177/2022/HS-ST Ngày: 28-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàng
2. Ông Phạm Quang Liêm
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Thương – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Anh T, sinh năm 1985, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Đường X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Trần Thị H; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 01 con, sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: Ngày 20/02/2020, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 22 tháng, chấp hành xong ngày 31/7/2021; nhân thân: ngày 19/02/2004, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2005; ngày 11/01/2016 bị Công an phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi Trộm cắp tài sản; ngày 16/9/2016 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/7/2017; ngày 10/10/2018, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/6/2019; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2022.
- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 2000; Địa chỉ:, khóm A, Phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nơi ở: Phòng trọ số 1, đường X1, phường Y1, quận Z1, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim L, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Khóm A1, Phường B1, thành phố C1, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần có tiền tiêu xài và nghiện ma túy nên Nguyễn Anh T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/6/2022, T thuê xe grab của một người đàn ông không rõ lai lịch đi từ khu vực Trung tâm thương mại AEON, số 30 đường Tân Thắng, phường Sơn Kỳ, tới đường T1, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, thì T xuống xe đi bộ vào đường T1 tìm tài sản để trộm cắp. T đi bộ tới phòng trọ số 1 của nhà số 47 của anh Nguyễn Hữu D, thuê trọ, T phát hiện cửa phòng trọ mở, trong phòng có dựng một xe gắn máy hiệu Honda Super Dream, biển số 69B1 – 170.71, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa xe, không có người trông coi nên T đi vào trong phòng trọ, dùng hai tay đẩy lùi xe ra khỏi phòng trọ số 1 thì bị anh D đang đọc sách ở trên gác trong phòng trọ phát hiện tri hô. Anh D và Huỳnh Nguyễn Hoàng K, đuổi theo T. T dắt xe ra hẻm được khoảng ba mét thì bị anh D, anh Khải đuổi theo, T quăng xe bỏ chạy ra đường T1, phường Tây Thạnh khi đến trước số 69 đường T1, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú thì bị bắt giữ cùng tang vật giao cho Công an phường Tây Thạnh, quận Tân Phú xử lý Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như nêu trên. T khai không biết nhân thân, lai lịch, không rõ biển số xe của người đàn ông chạy xe Grab đã chở T trên đường T1, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú và người đàn ông này cũng không biết T đón xe để đi trộm cắp tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản số 1272/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Tân Phú kết luận thời điểm ngày 01/6/2022; 01 xe gắn máy hiệu Honda Super Dream, màu nâu, biển số 69B1 – 170.71, trị giá là 13.500.000 đồng. Vật chứng thu giữ:
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Super Dream, màu nâu, biển số 69B1 – 170.71, số máy: HA05E0155334, số khung: 0604WY155314. Nguyễn Anh T đã trộm cắp của anh Nguyễn Hữu D. Theo bản kết luận giám định số 13073/KL-KTHS, ngày 02/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hồ Chí Minh xác định số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh xe trên do Lê Thị Kim L, sinh năm: 1977, Thường trú: Khóm A1, Phường B1, thành phố C1, tỉnh Cà Mau, là chủ sở hữu. Bà L là mẹ của Nguyễn Hữu D. Bà L giao chiếc xe trên cho anh D quản lý, sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy trên cho Nguyễn Hữu D.
- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12, là tài sản cá nhân của bị cáo T.
Toàn bộ số vật chứng trên được nhập kho theo lệnh nhập kho vật chứng số 89/LNK-ĐTTH ngày 26/8/2022.
* Về phần dân sự: Anh Nguyễn Hữu D đã nhận lại chiếc xe và không có yêu cầu bồi thường gì.
Tại Bản cáo trạng số: 95/CT-VKSQTP ngày 12/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đánh giá hành vi của bị cáo:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/6/2022, bị cáo T đã có hành vi lén lút lấy trộm một xe máy nhãn hiệu Honda Supper Dream màu nâu, biển số 69B1-170.71 của anh Nguyễn Hữu D, trị giá là 13.500.000 đồng, tại phòng trọ số 01 nhà số 47 đường T1, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú thì bị bắt giữ cùng tang vật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội. Đối với người đàn ông chạy xe grab đã chở T đến đường T1, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị cáo T không rõ biển số xe, không biết nhân thân, lai lịch và người đàn ông này cũng không biết bị cáo T đón xe để đi trộm cắp do đó Hội đồng xét xử không xem xét. [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Anh T [5] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, do đó Hội đồng xét xử không xét.
Về xử lý vật chứng:
- 01 xe gắn máy hiệu Honda Super Dream, màu nâu, biển số 69B1 – 170.71, số máy: HA05E0155334, số khung: 0604WY155314. Nguyễn Anh T đã trộm cắp của anh Nguyễn Hữu D. Theo bản kết luận giám định số 13073/KL-KTHS, ngày 02/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP. Hồ Chí Minh xác định số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh xe trên do Lê Thị Kim L, sinh năm: 1977, Thường trú: Khóm A1, Phường B1, thành phố C1, tỉnh Cà Mau, là chủ sở hữu. Bà L là mẹ của Nguyễn Hữu D. Bà L giao chiếc xe trên cho anh D quản lý, sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy trên cho Nguyễn Hữu D. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12, là tài sản cá nhân của bị cáo T. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội do đó cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2022
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 có số imei1: 351162960191743, số Imei2: 351533630191745.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số: 89/PNK ngày 26/8/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú)
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. [6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1); - VKSND quận Tân Phú (3); - THADS quận Tân Phú (1); - THAHS quận Tân Phú (2); - Phòng PC53 CA Tp. HCM (1); - Nhà tạm giữ (2); - Bị cáo (1); - Bị hại (1); - Sở Tư Pháp (1); - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (17) [6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Ngọc Phượng Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 |