vanban.org

Bản án 177/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hoàng H

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Hoàng H được ly hôn với anh Bùi Tấn S. Về con chung: Giao con chung tên Bùi Tấn P, sinh ngày 31/3/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HNGĐST HUYÊN- SANG"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hoàng H
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:177/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-3-2022
V/v Tranh chấp:“Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH TIỀN GIANG

Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Hà

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Minh

2. Ông Huỳnh Văn Phó

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục -Thư ký toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 394/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1998 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp BA, xã ĐH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang

*Bị đơn: Bùi Tấn S, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã NB, huyện CT, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn xin ly hôn ngày 26/10/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng H trình bày: Chị và anh Bùi Tấn S tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Điềm Hy, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang vào năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh S không quan tâm chăm sóc vợ con, thường xuyên ăn nhậu, chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh S không thay đổi, chị về nhà mẹ ruột tại ấp Bắc B, xã Điềm Hy, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang sống sống từ tháng 10/2021 và vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay vợ chồng không còn tình cảm, không thể kéo dài cuộc sống chung nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Tấn S.

Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Tấn P, sinh ngày 31/3/2018 hiện đang sống với chị. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có

Về nợ chung: không có

* Bị đơn anh Bùi Tấn S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh vẫn không đến Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gởi Tòa án.

Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh S, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Về chấp hành qui định của pháp luật tố tụng nguyên đơn thực hiện đúng qui định, bị đơn chưa thực hiện đúng qui định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H xin ly hôn với anh S, giao con chung cho chị H nuôi, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp: “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Anh Bùi Tấn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt anh S

Về nội dung: Xét thấy, chị Nguyễn Hoàng H và anh Bùi Tấn S tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2017, được Ủy ban nhân dân xã Điềm Hy, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 18/9/2017 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo chị H trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh S không quan tâm chăm sóc vợ con, thường xuyên ăn nhậu, chị đã khuyên nhiều lần nhưng anh S không thay đổi. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở để chấp nhận bởi lẽ, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020, đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay và từ lúc ly thân đến nay anh chị cũng không có liên lạc với nhau để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Anh S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến gởi tòa án, chứng tỏ anh không có thiện chí đoàn tụ với chị H, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Tấn P, sinh ngày 31/3/2018, chị H yêu cầu được nuôi con. Xét cháu Phát chưa đủ 04 tuổi và hiện đang sống với chị H, do đó để đảm bảo ổn định cuộc sống của cháu Phát cần để chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

Về tài sản chung: Chị H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về nợ chung: Chị H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 điều 147, khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hoàng H

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Hoàng H được ly hôn với anh Bùi Tấn S.

Về con chung: Giao con chung tên Bùi Tấn P, sinh ngày 31/3/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh S được quyền đến thăm và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 0003618 ngày 19/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, chị H đã nộp xong án phí.

Chị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ