- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1940; địa chỉ: Hoa Kỳ."
- Tòa quyết gì? Căn c khoản 1, khoản 2, Điều 308, Điều 309 B lu t tố tụng dân sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 177/2022/DS-PT Ngày: 27/07/2022 |
V/v “T ;
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Công Thi Các Thẩm phán: Ông Mai Xuân Thành Ông Nguyễn Cường Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Mai, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh– Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cap tại Đà Nẵng mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/TBTL-TA ngày 17 tháng 5 năm 2022 về việc “T ; ; ” Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 09/3/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà bị kháng cáo, kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1893/2022/QĐ-PT ngày 27 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự: - N ê ơ : Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1940; địa chỉ: Hoa Kỳ. vắng mặt N ờ eo ê ơ : Bà Lê Thị Công D, sinh năm 1977; địa chỉ: T phố Hồ Chí Minh (G 19/3/2018). Có mặt N ờ o ê ơ : Ông Nguyễn Châu H, Lu t sư Công ty Lu t TNHH MTV C và C ng sự thu c Đoàn Lu t sư T phố Hồ Chí Minh. Có mặt - B ơ : Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1971; HKTT: tỉnh Khánh Hòa; địa chỉ hiện nay: tỉnh Khánh Hòa. Có mặt N ờ o ơ : Ông Tr n Quốc T, Lu t sư Văn phòng lu t sư Q thu c Đoàn Lu t sư tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt - N ờ ó ĩ ê : 1. Bà Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 1971; vắng mặt 2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1949; vắng mặt Cùng địa chỉ: tỉnh Khánh Hòa. Bà Nguyễn Thị Mỹ C và bà Nguyễn Thị T cùng ủy quyền cho ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1971; HKTT: tỉnh Khánh Hòa; địa chỉ hiện nay: tỉnh Khánh Hòa tham gia tố tụng (G 21/01/2019 12/4/2019) 3. Ông Vĩnh T, sinh năm 1970; vắng mặt 4. Bà Nguyễn Duy Bảo T, sinh năm 1974; vắng mặt Cùng địa chỉ: tỉnh Khánh Hòa. 5. Ông Nguyễn Khắc H, sinh năm 1983; địa chỉ: tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt 6. Văn phòng Công ch ng Hoàng X; địa chỉ: tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt 7. Ông Phạm nh T, Công ch ng viên Văn phòng Công ch ng X; địa chỉ số tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt 8. Ủy ban nhân dân thành phố N; địa chỉ: thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Khánh N là Phó trưởng phòng và bà Trịnh Thị Bích K là nhân viên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố N (G 19/02/2020). 9. Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1955; địa chỉ: thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt N ờ k : Viện trưởng, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa. N ờ k o: Ông Nguyễn Duy P, bị đơn và bà Nguyễn Thị T; Ông Vĩnh T; Ông Nguyễn Khắc H là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo B ơ ẩm , ứ ứ ó o ơ , ộ : T ơ k ở k 26/7/2018 ờ k o ì , ê ơ N ễ T T ờ eo T Lê T Cô D ì : Qua sự giới thiệu của người môi giới là bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T đã mua của vợ chồng ông Lê Văn P, bà Nguyễn Thị H thửa đất số 01, tổ 24, khóm N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa ( ố 15, ờ ố 15, ổ 13 N, ờ g N, ố N, ỉ K H ), diện tích 1.787m2 . Khi mua thửa đất này, bà T trực tiếp về Việt Nam, được bà T dẫn đi xem đất, trực tiếp thỏa thu n giá cả và cách th c thanh toán với vợ chồng ông P. Sau đó, bà T quay về Mỹ chuẩn bị tiền, gửi tiền về Việt Nam làm nhiều l n, nhờ bà Nguyễn Thị T là em cùng mẹ khác cha với bà T thanh toán cho vợ chồng ông P. Bà T cũng đã trả cho bà T m t chỉ vàng cho việc môi giới đất. Thời gian này, thửa đất chưa được rào chắn nên khoảng năm 2000, bà T cho bà Nguyễn Thị S ( ờ ọ ô B) là em chồng của bà T xây m t căn nhà cấp 4 ở tạm trên thửa đất này để giữ đất và thỏa thu n khi nào c n lấy lại đất thì bà T sẽ trả lại toàn b số tiền mà bà S đã bỏ ra xây dựng nhà. Vì là Việt kiều, không thể trực tiếp đăng ký quyền sử dụng đất nên bà T đã nhờ ông Nguyễn Duy P là con trai của bà T đ ng tên trên giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông P, bà H. Mục đích ban đ u của bà T là mua và giữ đất lâu dài, sau này lớn tuổi thì bà T về Việt Nam sinh sống nên bà T chưa làm thủ tục xin cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Năm 2001, bà T về Việt Nam. Ông Ngô S là anh cùng cha khác mẹ với bà T ngỏ ý mua lại m t ph n thửa đất nêu trên. Nh n thấy thửa đất này là của bà T mua nhưng nhờ bà T và ông P giao dịch, đ ng tên giấy tờ mua bán mà không có văn bản gì để ch ng minh nên ông S đã soạn thảo Giấy ủy quyền ngày 16/6/2001, cho ông P được quyền quản lý, sử dụng, mua bán và liên hệ với các cấp chính quyền để giải quyết những vấn đề có liên quan đến thửa đất mà không c n sự đồng ý bằng văn bản của bà T. Việc ủy quyền này nhằm mục đích ch ng minh ông P chỉ là người được bà T nhờ quản lý đất và đ ng ra thực hiện các thủ tục xin cấp giấy ch ng nh n, giao dịch, mua bán đất theo yêu c u của bà T. Trên thực tế, mọi vấn đề liên quan đến thửa đất, ông P đều phải báo cho bà T và chỉ được thực hiện những công việc, giao dịch mà bà T yêu c u và bà T là người chi trả toàn b chi phí liên quan đến thửa đất. Ngày 01/02/2002, thửa đất nêu trên được Ủy ban nhân dân thành phố N cấp Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00007QSDĐ/NH-NT cho ông P.Ngày 05/3/2002, theo yêu c u của bà T, ông P l p hợp đồng chuyển nhượng cho ông Ngô S m t ph n đất diện tích 821m2 thu c thửa đất nêu trên và cơ quan có thẩm quyền đã c p nh t biến đ ng trên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất vào ngày 05/4/2002. Toàn b quá trình giao dịch, ông S đều trực tiếp bàn bạcvới bà T. Tiền chuyển nhượng đất, ông S giữ và giúp bà T thanh toán m t số chi phí ở Việt Nam, sau này bà T về Việt Nam thì ông S trả số tiền còn lại cho bà T. Tháng 9/2002, bà T đưa cho vợ của ông S là bà Lê Thị Bích T ( ờ ọ B) 2.000USD ( ơ ơ 6,28 ) để trả lại tiền xây dựng nhà cho bà S. Sau khi nh n tiền của bà T, bà T đã đưa toàn b tiền cho ông P và ông P đã giao lại cho bà S làm nhiều l n. Tuy nhiên, tổng c ng ông P chỉ giao cho bà S 06 lượng vàng ch không giao đủ 6,28 lượng vàng. Cuối năm 2017, bà T có nguyện vọng về Việt Nam sống nên muốn tặng cho toàn b ph n đất còn lại ( ừ ầ ã o ô S) cho em trai ru t của bà T là ông Huỳnh Tấn P. Ông P là người sau này sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng bà T. Tuy nhiên, khi bà T đề nghị ông P thực hiện thủ tục tặng cho thì ông P lảng tránh, không thực hiện. Ngày 13/8/2018, vợ chồng ông P l p hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng toàn b ph n đất còn lại cho vợ chồng em gái ru t của ông P là ông Vĩnh T và bà Nguyễn Duy Bảo T. Ngày 18/02/2019, vợ chồng ông T, bà T tiếp tục chuyển nhượng thửa đất cho ông Nguyễn Khắc H. Khi ông H làm thủ tục đăng ký cấp Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thì bị C nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N từ chối giải quyết vì thửa đất đang có tranh chấp. Vì v y, bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu c u Tòa án bu c ông Nguyễn Duy P trả lại diện tích đất 966m2 thu c thửa 01, tổ 24, cụm dân cư N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cho bà T. Đồng thời, bà T yêu c u Tòa án tuyên hủy Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00007QSDĐ/NH-NT do Ủy ban nhân dân thành phố N cấp cho ông Nguyễn Duy P, hủy Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH04603 do UBND thành phố N cấp ngày 18/7/2018 cho ông Nguyễn Duy P, chỉnh lý biến đ ng sang tên cho ông Vĩnh T ngày 24/8/2018; tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/8/2018 giữa ông Nguyễn Duy P, bà Nguyễn Thị Mỹ C với ông Vĩnh T do giả tạo; tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/02/2019 giữa ông Vĩnh T, bà Nguyễn Duy Bảo T với ông Nguyễn Khắc H; công nh n sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T về việc tặng cho thửa đất cho ông Huỳnh Tấn P để ông P được liên hệ với cơ quan thẩm quyền đăng ký cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất theo quy định pháp lu t. - B ơ ô N ễ D P ì : Tháng 5/1993, qua sự giới thiệu của người bà con bên chồng của mẹ ông P là ông Đoàn D ( ã ), mẹ ông là bà Nguyễn Thị T đã đồng ý mua thửa đất trồng dừa diện tích khoảng 1.960m2 ở Cồn Dê, N, N, N của vợ chồng ông Lê Văn P, bà Nguyễn Thị H với giá 16 lượng vàng. Ngày 17/5/1993, tại nhà của bà T ở phường V, thành phố N, mẹ ông P và vợ chồng ông P đã làm giấy giao kèo nh n tiền đặt cọc sang nhượng đất, có sự ch ng kiến của ông Đoàn D và ông Nguyễn C ( ã ) Vợ chồng ông P đã nh n cọc tiền bán đất là 08 lượng vàng. Số vàng còn lại sẽ nh n vào cuối năm 1993. Tuy nhiên, vào tháng 8/1993, bà H đề nghị mẹ ông đưa thêm số vàng còn lại để lấy tiền chữa bệnh cho chồng. Yêu c u của bà H quá đ t ng t nên mẹ ông không chuẩn bị kịp vì còn hơn 04 tháng nữa mới đến hạn trả số vàng còn lại. Để có tiền đưa cho bà H, mẹ ông đã gọi điện sang Mỹ hỏi mượn bà Nguyễn Thị T 08 lượng vàng để trả tiền mua đất. Bà T không đồng ý cho mượn mà đề nghị mẹ ông cho bà T hùn số vàng nêu trên (08 lượng) để hai chị em cùng mua chung thửa đất. Mẹ ông P là bà T đồng ý. Sau đó, bà T đã gửi tiền về cho mẹ ông mua vàng để trả ph n còn lại cho vợ chồng ông P (08 ng). Bà T gửi tiền về cho mẹ ông qua dịch vụ gửi tiền, rồi có người mang tiền mặt đến giao trực tiếp cho mẹ ông ch không có giấy tờ gì. Ngày 19/8/1993, tại nhà bà T mẹ ông P đã đưa thêm cho bà H 5,5 lượng vàng, có sự ch ng kiến của ông Nguyễn C. Sau đó, hai bên tiến hành làm giấy tờ, bà T để ông đ ng tên sang nhượng đất của vợ chồng ông P. Ngày 09/9/1993, Ủy ban nhân dân thành phố N ban hành Quyết định số 2044 công nh n việc sang nhượng thửa đất giữa vợ chồng ông P và ông với diện tích thực tế là 1.787m2 . Ngày 11/10/1993, bà T đưa cho ông 2,5 lượng vàng để ông giao cho vợ chồng ông P và nh n bàn giao thửa đất từ vợ chồng ông P, có biên nh n do vợ chồng ông P l p. Tháng 10/2001, ông Ngô S hỏi bà T để mua 800m2 đất thu c thửa đất nêu trên và bà T đồng ý bán cho ông S. Trong thời gian ông P làm thủ tục xin cấp Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất để sang nhượng m t ph n đất cho ông S thì ông S có đưa cho bà T mượn trước tiền mua đất, tổng c ng là 30.000.000 đồng; đưa thành 03 l n, cụ thể mỗi l n đưa bao nhiêu thì ông không nhớ. Việc giao tiền này do bà Lê Thị Bích T là vợ ông S ghi vào sổ của bà T ch mẹ ông P không giữ giấy tờ gì. Khi mẹ ông báo cho bà T biết việc mẹ ông đã bán m t ph n thửa đất cho ông S thì bà T nói thửa đất là do hai chị em mua chung nhưng tại sao mẹ ông bán mà không báo gì cho bà T biết và giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, bà T yêu c u ông P nói với ông S thanh toán số tiền mua đất cho bà T vì đó là ph n hùn của bà T và bà T cũng không muốn liên quan gì đến thửa đất đó nữa. Vì đã nh n của ông S 30.000.000 đồng và cũng không muốn có sự bất hòa trong gia đình nên mẹ ông đồng ý với bà T. Bà T báo với ông S ý kiến của bà T, ông S đồng ý thanh toán số tiền mua đất cho bà T. Năm 2001, khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Ngô S thì ông P đã giao toàn b giấy tờ đất cho ông S làm thủ tục kê khai cấp sổ cho ông S và cho ông nên hiện nay ông P không còn giữ giấy tờ gì liên quan đến thửa đất. Sau khi chuyển nhượng cho ông S, ông được Ủy ban nhân dân thành phố N cấp Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH04603 ngày 18/7/2018 đối với diện tích đất còn lại là 966m2 . Vì những lý do trên, ông P không đồng ý toàn b yêu c u khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. - N ờ ó , ĩ ê ì : 1 B N ễ T Mỹ C N ễ T T ì : Các bà thống nhất với ý kiến trình bày của ông Nguyễn Duy P. 2 Ô Vĩ T ì : Ông là con rể của bà Nguyễn Thị T, ông gọi ông P là anh vợ, gọi bà Nguyễn Thị T là dì. Vợ chồng ông mua thửa đất số 15 tờ bản đồ số 15, diện tích 966m2 tại tổ 13 N, phường N, thành phố N từ ông Nguyễn Duy P. Về nguồn gốc thửa đất trước đó thì ông không rõ vì ông chỉ là con rể. Ông chỉ nghe gia đình bên vợ kể nguồn gốc thửa đất hiện nay đang tranh chấp do mẹ vợ ông là bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T có hùn hạp với nhau chung tiền để mua, mỗi bên góp bao nhiêu thì ông không biết. Sau này, ph n đất của bà T thì bà T đã bán hết cho ông Ngô S, còn ph n của bà T là 966m2 thì bà T cho lại ông P rồi ông P bán cho vợ chồng ông. Việc mua bán giữa vợ chồng ông và ông P hoàn toàn hợp pháp. Ngày 13/8/2018, ông P và vợ là bà Nguyễn Thị Mỹ C l p hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất 966m2 cho ông. Ngày 24/8/2018, ông được chỉnh lý sang tên trên Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đã cấp cho ông P. Ông nh n chuyển nhượng từ ông P với giá 380.000.000 đồng nhưng để tránh thuế thì ghi giá chuyển nhượng trên hợp đồng là 100.000.000 đồng. Hiện nay, tất cả những giấy tờ giao nh n tiền giữa ông với ông P thì ông không còn lưu giữ. Ngày 18/02/2019, ông và vợ là bà Nguyễn Duy Bảo T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên cho ông Nguyễn Khắc H. Giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 100.000.000 đồng để tránh thuế, còn giá chuyển nhượng thực tế là 530.000.000 đồng, ông đã nh n của ông H 500.000.000 đồng, ông H còn thiếu của ông 30.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng giữa ông và ông H là hợp pháp. Tuy hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông H có cả tên vợ của ông là bà T nhưng đó chỉ là thủ tục để hợp th c giấy tờ, còn tiền mua đất của ông P hoàn toàn là tiền của ông. Khi ông mua đất của ông P thì đó là thửa đất trống, có m t căn nhà cấp 4 nhưng không còn giá trị sử dụng, đã bị dỡ hết mái tôn. Sau khi mua thì ông không xây dựng, canh tác gì trên đất, ông mua rồi bán lại cho ông H. Hiện nay, hiện trạng thửa đất này như thế nào và do ai quản lý thì ông không biết. Việc bà T kiện ông P thì đó là chuyện n i b gia đình bên vợ ông nên ông không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp lu t. Trường hợp nếu việc ông P chuyển nhượng đất cho ông là không hợp pháp do lỗi của ông P thì ông đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết bảo vệ quyền lợi cho ông theo quy định pháp lu t. 3 B N ễ D B o T ì : Bà là vợ của ông Vĩnh T. Ông T có mua đất của ông Nguyễn Duy P nhưng cụ thể như thế nào thì bà không biết vì tiền mua đất là tiền riêng của ông T. Khi ông T bán đất cho ông Nguyễn Khắc H, theo quy định phải có chữ ký cả vợ và chồng nên bà ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng, còn việc mua bán cụ thể thế nào là của ông T, bà không biết gì. 4 Ô N ễ K ắ H ì : Ngày 18/02/2019, ông mua của ông Vĩnh T thửa đất số 15, tờ bản đồ 15 tại Tổ 13 N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, ông n p hồ sơ tại C nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N để làm hồ sơ cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ngày 05/3/2019, C nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N ban hành Thông báo số 3985/TB-CNNT từ chối giải quyết hồ sơ vì thửa đất đang có tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Duy P. Việc chuyển nhượng giữa ông với vợ chồng ông Vĩnh T, bà Nguyễn Duy Bảo T là hợp pháp. Trên hợp đồng chuyển nhượng giá trị đất là 100.000.000 đồng, tuy nhiên giá trị thực tế là 530.000.000 đồng. Ông đã thanh toán cho ông Vĩnh T 500.000.000 đồng. Số tiền còn lại sẽ thanh toán cho ông T khi hồ sơ pháp lý sổ đỏ đ ng tên ông. Tại thời điểm ông mua, trên đất có 01 căn nhà cấp 4 đã cũ, mất mái. Hiện nay nhà, đất vẫn giữ nguyên hiện trạng. Ông đề nghị Tòa án giữ nguyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với vợ chồng ông Vĩnh T, bà Nguyễn Duy Bảo T. Đối với tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Duy P, Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp lu t và các bên thanh toán với nhau bằng tiền. 5 Ủ â â ố N ì : Thửa đất số 15, tờ bản đồ 15 tại Tổ 13 N, phường N, thành phố N có nguồn gốc do ông Lê Văn P quản lý, sử dụng từ trước năm 1993. Ngày 21/5/1993, ông Lê Văn P chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy P, diện tích 1.787m2 , được Ủy ban nhân dân thành phố N đồng ý tại Quyết định số 2044/UB ngày 09/9/1993 và Quyết định số 2197/QĐ.UB ngày 01/10/1993. Năm 2002, ông Nguyễn Duy P đăng ký cấp Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân thành phố N cấp Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00007QSDĐ/NH-NT ngày 01/02/2002, thửa số 01, diện tích 1.787m2 , đất Q, thời hạn sử dụng 10/2013 tại Tổ 24 Cụm dân cư N, phường N, thành phố N theo Lu t Đất đai và Lu t sửa đổi bổ sung m t số điều của Lu t Đất đai thông qua ngày 02/12/1998; Nghị định 66/2001/NĐ-CP ngày 28/9/2001 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung m t số điều của Nghị định 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 về thi hành Lu t sửa đổi, bổ sung m t số điều của Lu t Đất đai; Nghị định 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung m t số điều của Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Ngày 28/02/2002, ông Nguyễn Duy P chuyển nhượng m t ph n quyền sử dụng đất với diện tích 821m2 , đất trồng cây lâu năm cho ông Ngô S theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân phường N xác nh n ngày 05/3/2002. Phòng Địa chính chỉnh lý ngày 05/4/2002 và Ủy ban nhân dân thành phố N cấp giấy ch ng nh n mới cho ông Ngô S. Năm 2018, ông Nguyễn Duy P đăng ký cấp đổi giấy ch ng nh n đối với diện tích đất còn lại 966m2 , đất trồng cây lâu năm và có số thửa đất mới 15, tờ bản đồ 15, Tổ 13 N, phường N, thành phố N, được Ủy ban nhân dân thành phố N cấp đổi giấy ch ng nh n mới số CH04603 ngày 18/7/2018 theo Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành m t số điều của Lu t Đất đai năm 2013. Ngày 13/8/2018, ông Nguyễn Duy P chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ph n diện tích còn lại (966m2 ) cho ông Vĩnh T theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng công ch ng Hoàng Huệ - Phạm Tuấn ch ng thực. Ngày 27/8/2018, C nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N chỉnh lý sang tên cho ông Vĩnh T. Như v y, việc Ủy ban nhân dân thành phố N cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Duy P và C nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Duy P và ông Vĩnh T là thực hiện trình tự thủ tục quy định. 6 Vă Cô ứ X Cô ứ ê P m A T ì : Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 15, tờ bản đồ 15, địa chỉ Tổ 13 N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa ngày 13/8/2018, giữa bên chuyển nhượng ông Nguyễn Duy P, bà Nguyễn Thị Mỹ C với bên nh n chuyển nhượng ông Vĩnh T; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 15, tờ bản đồ 15, địa chỉ tổ 13 N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa ngày 18/02/2019, giữa bên chuyển nhượng ông Vĩnh T, bà Nguyễn Duy Bảo T với bên nh n chuyển nhượng ông Nguyễn Khắc H. Hồ sơ công ch ng đều đ y đủ theo quy định như: Phiếu yêu c u công ch ng hợp đồng, giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, ch ng minh nhân dân, h khẩu thường trú của bên chuyển nhượng và bên nh n chuyển nhượng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi tiến hành công ch ng, Công ch ng viên đã kiểm tra giấy tờ tùy thân, năng lực hành vi dân sự của các bên giao kết hợp đồng và nh n thấy các bên đủ tư cách tham gia giao kết hợp đồng, giải thích đ y đủ quyền, nghĩa vụ, h u quả pháp lý cho các bên. N i dung thỏa thu n của các bên không trái pháp lu t và đạo đ c xã h i và được tác nghiệp theo đúng quy định của Lu t Công ch ng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp lu t. 7 Ô H T P ì : Ông là em cùng mẹ khác cha với bà Nguyễn Thị T. Bà Nguyễn Thị T là Việt kiều sống tại Mỹ nên thời điểm trước đây, bà T không được mua đất tại Việt Nam. Vì v y, bà T nhờ ông Nguyễn Duy P đ ng tên trên giấy tờ mua bán thửa đất diện tích 1.787m2 ở cụm dân cư N, phường N, thành phố N của vợ chồng ông Lê Văn Pháp, bà Nguyễn Thị Hạ. Khi bà T về Việt Nam xem đất để mua thì có ông đi cùng với bà T, có mặt cả ông P, bà T. Khi các bên giao tiền mua đất thì ông không có mặt. Ông kh ng định toàn b tiền mua đất là của bà T ch không phải của mẹ con ông P vì hoàn cảnh gia đình ông P rất khó khăn, không có đủ số tiền để mua đất như v y. Ông là công dân Việt Nam và ông có đủ điều kiện đ ng tên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, vì v y ông đồng ý nh n nhà đất tranh chấp nếu bà T có nguyện vọng tặng cho ông. Còn đối với n i dung tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Duy P đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp lu t. Tại phiên tòa sơ thẩm: - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Công D và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu c u khởi kiện, yêu c u khởi kiện bổ sung và trình bày: Căn c vào Giấy ủy quyền ngày 16/6/2001 và các giấy tờ về việc Ông Nguyễn Duy P nh n tiền của bà Nguyễn Thị T từ bà Lê Thị Bích T để làm các thủ tục cấp giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, đổ đất, xây móng xung quanh thửa đất, chặt dừa và trả tiền căn nhà cấp 4 cho bà Nguyễn Thị S trên đất tranh chấp có căn c xác định bà Nguyễn Thị T là người trả tiền mua đất, ông Nguyễn Duy P là người đ ng tên h trên hợp đồng và giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất. Đất đang có tranh chấp nhưng ông Nguyễn Duy P vẫn chuyển nhượng cho ông Vĩnh T. Sau đó ông Vĩnh T, bà Nguyễn Duy Bảo T chuyển nhượng cho ông Nguyễn Khắc H là vi phạm lu t đất đai nên đề nghị H i đồng xét xử chấp nh n yêu c u khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. - B ơ ô N ễ D P ờ o o ơ ì : Bà Nguyễn Thị T là người có Quốc tịch Mỹ theo pháp lu t bà T không có quyền sử dụng đất tại Việt Nam nên bà T không có quyền đòi quyền sử dụng đất mà chỉ có quyền đòi giá trị quyền sử dụng đất và cũng không có quyền cho ông Huỳnh Tấn P quyền sử dụng đất. Nguyên đơn không có tài liệu ch ng minh việc đưa tiền cho bà Nguyễn Thị T để nhờ bà T mua đất. Tài liệu, ch ng c về giao dịch chuyển nhượng đất giữa bà T với vợ chồng ông Lê Văn Pháp, bà Nguyễn Thị Hạ thể hiện bà T là người trả 08 lượng vàng trước, còn 08 lượng vàng đưa sau là của bà Nguyễn Thị T góp tiền mua chung thửa đất. Giấy ủy quyền ngày 16/6/2001, ông Nguyễn Duy P ký là không đúng vì đất là do bà Nguyễn Thị T nh n chuyển nhượng. Theo giấy ủy quyền thì ông Nguyễn Duy P được toàn quyền, quản lý, sử dụng, mua bán nên việc ông Nguyễn Duy P chuyển nhượng đất cho ông Vĩnh T là hợp pháp. Đề nghị H i đồng xét xử không chấp nh n yêu c u khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Trường hợp có đủ căn c ch ng minh bà Nguyễn Thị T là người bỏ tiền mua đất và nhờ ông Nguyễn Duy P đ ng tên h , đề nghị H i đồng xét xử giải quyết vụ án theo n i dung n lệ số 02/2016/ L. Từ các nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 09/3/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà đã quyết định: Că ứ 117, 123, 124, 131 Bộ Dâ ăm 2015 Că ứ k o 7 12, 188 L ăm 2013 Că ứ k o 1 34, 147, 157, 158 Bộ Tố â Că ứ N ố 326/2016/UBTVQH14 30 12 ăm 2016 Ủ T ờ Q ố ộ mứ , m ễ , m, , ộ , ý T Tuyên xử: 1 C ê ầ k ở k ê ơ N ễ T T
1 1 ố 15, ờ ố 15, ổ 13 N, ờ N, ố N, ỉ K H , ó 966m2 â â ăm (T o ó ó 556,0m2 ộ o o ô ); ê ó mó â o 02 (40 m), 61,74 m , 01 ă (m ã o ó , k ô ó , k ô ó ), mă , ờ â 10 m 01 â o o C ộ ở N ễ T T (Có ơ k m eo) 1.2 B ộ ô N ễ K ắ H o o N ễ T T ê ở m 1 1 1.3. G N ễ T T cho ô H T P 966m2 ộ 01, ổ 24, m â N, ờ N, ố N, ỉ K H Ô H T P ê ơ ó ẩm ứ eo 1 4 Ô H T P ó ĩ o o ô N ễ D P ô ứ o o , ì ý, ô o ừ , ổ , â mó k ô ê 643 356 000 ( ăm ố m ơ ăm ăm m ơ ) 2 C ê ầ k ở k ê ơ N ễ T T ê ầ ê ố ô 2 1 T ê ố H 13/8/2018 ô N ễ D P N ễ T Mỹ C ô Vĩ T ( Vă Cô ứ X ứ ố ô ứ 8119, Q ố 03/2018 TP/CC- CC/H GD) ô B ộ ô N ễ D P N ễ T Mỹ C o ô Vĩ T ã 380 000 000 ờ 1 418 390 000 Tổ ộ 1 798 390 000 (Mộ ăm m ơ m ăm m ơ ) 2 2 T ê ố H 18/02/2019 ô Vĩ T N ễ D B o T ô N ễ K ắ H ( Vă Cô ứ X ứ ố ô ứ 1025, Q ố 01/2019 TP/CC- CC/H GD) ô B ộ ô Vĩ T N ễ D B o T o ô N ễ K ắ H ã 500 000 000 ờ 1 358 390 000 Tổ ộ 1 858 390 000 (Mộ m ăm ăm m ơ m ăm m ơ ) 3 C ê ầ k ở k ê ơ N ễ T T ê ầ G ứ ỉ ý ê ê ứ
3 1 H G ứ ố 00007 Q D /NH-NT o UBND ố N 01/02/2002 o ô N ễ D P. 3 2 H G ứ , ở ở k ắ ố CH04603 do UBND ố N 18/7/2018 o ô N ễ D P, ỉ ý ộ ê o ô Vĩ T 24/8/2018 4 V ố : C ê ơ ã o ố Q : K ừ ó ơ ê ầ ờ o k o , k o , ê k o ã ố eo mứ ã k o 2 468 Bộ Dâ ăm 2015. - T ờ , eo 2 L T â , ì ờ â , ờ â ó ỏ , ê ầ , o ỡ eo 6,7 9 L T â ; ờ â eo 30 L T â 5 T ì k ẩ m ờ Q ố 02/2019/Q - BPB 15/5/2019 T â â ỉ K H k ẩ m ờ m ố o k o 6 Á : - M ễ â ơ ẩm o N ễ T T Ho o N ễ T T 300 000 m ứ â ơ ẩm m T ã ộ eo B ê m ứ , T ố AA/2016/0000716 10/10/2018 C T â ỉ K H - Ô N ễ D P N ễ T Mỹ C ộ 65 951 700 â ơ ẩm - Ô Vĩ T N ễ D B o T ộ 67 751 700 â ơ ẩm N o , B ơ ẩm ê k o ơ eo
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/4/2022 Viện trưởng,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 176/QĐ-VKS-DS kháng nghị đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 09/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, lý do kháng nghị như sau: Toà án cấp sơ thẩm thu th p ch ng c chưa đ y đủ, chưa tiến hành đối chất làm rõ các mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, vi phạm Điều 97, 100 B lu t Tố tụng dân sự; Bản án sơ thẩm áp dụng không đúng quy định của lu t đất đai; Cấp sơ thẩm đánh giá ch ng c không đúng, vi phạm Điều 108 B lu t Tố tụng dân sự; Ph n quyết định của Bản án sơ thẩm không đảm bảo cho việc thi hành án và tại Bản án sơ thẩm quyết định về án phí không đúng, có mâu thuẫn ph n nh n định và ph n quyết định. Do v y, yêu c u Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng huỷ Bản án sơ thẩm. Bị đơn ông Nguyễn Duy P, bà Nguyễn Thị T ông Vĩnh T và ông Nguyễn Khắc H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm, lý do kháng cáo của ông P, bà T, cho rằng n i dung của Bản án sơ thẩm không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, có sai l m trong việc áp dụng pháp lu t, Toà án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án vượt quá yêu c u của đương sự, yêu c u áp dụng n lệ số 02/2016, lý do kháng cáo của ông T và ông H cho rằng, việc nh n chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Vĩnh T, ông Nguyễn Khắc H, là hợp pháp, quyết định của Bản án sơ thẩm đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, ông P, bà T, ông T và ông H yêu c u huỷ Bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Duy P và bà Nguyễn Thị T; ông Vĩnh T; ông Nguyễn Khắc H đều giữ nguyên kháng cáo. Lu t sư Nguyễn Châu H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị T đề nghị Hồi đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến như sau: - Về tố tụng: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, H i đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của B lu t tố tụng dân sự. - Về n i dung: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến cho rằng theo hồ sơ vụ án, có đủ căn c xác định bà Nguyễn Thị T là người bỏ tiền ra nhờ bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Duy P nh n chuyển nhượng thửa đất có diện tích 1.787m2 , ông P là người được bà T nhờ đ ng tên giúp trên Giấy ch ng nh n, tuy nhiên đối với các n i dung kháng nghị khác của Viện trưởng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa là có cơ sở, do v y, vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị H i đồng xét xử hủy Bản án sơ thẩm. NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN Căn c vào hồ sơ vụ án, các tài liệu ch ng c đã được xem xét và kết quả tranh tụng: [1]. Xem xét Quyết định kháng nghị số 176/QĐ-VKS-DS ngày 08/4/2022 của Viện trưởng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà; kháng cáo của ông Nguyễn Duy P, nguyên đơn; bà Nguyễn Thị T; ông Vĩnh T và ông Nguyễn Khắc H là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án,
xét thấy:
[1.1].Về thu th p, đánh giá ch ng c : Xem xét thửa đất số 15, tờ bản đồ 15, tổ 13, (t c thửa số 01, tổ 24), diện tích 1.787m2, tại khóm N, phường N, thành phố N, xét thấy: Về quan hệ gia đình bà T và bà T là chị em cùng mẹ, anh P con của bà T gọi bà T bằng dì, theo trình bày của ông Nguyễn Duy P trong xuyên suốt hồ sơ vụ án thì ông P chỉ là người đ ng tên giúp trên GCNQSDĐ cho người khác, ngày 16/ 6/ 2021 ông P ký vào Giấy ủy quyền của bà T có n i dung: “V o 21/5/1993 Tô ờ em ô ô N ễ D P N ễ T T (mẹ N ễ D P) m ùm ô mộ m o ổ 13, k óm N, ờ N, ố N, ỉ K Ho , V N m D m 1 787 m2 . Vì ô V k ê k ô ứ ê ê ờ m ê ô N ễ D P ứ ê ê ờ m …”(Bú ố 21), tại phiên tòa phúc thẩm, ông P cũng đã thừa nh n chữ ký trong Giấy ủy quyền trên là của ông P. Đối với bà T là người trực tiếp giao dịch mua đất của ông P, bà H. Bà T có đủ điều kiện để được cấp Giấy CNQSDĐ theo quy định của Lu t đất đai, nhưng lại nhờ anh P đ ng tên là không phù hợp, lời khai của bà T có nhiều mâu thuẫn, cụ thể, xem xét bản tự khai ngày 11/4/2019, bà T tự viết “Năm 2022, ô N ô S ó ỏ m , ô ó o o ô ô o ô N ô S, C ô k ô ằ o em ô ở, o ô o ô S. Sau ó m T ô S ô k ô ì … T T ừ ô S…” (BL 77), nhưng tại Bản tự khai của ông Nguyễn Duy P ngày 7/8/2020 ông P cho rằng: “..Mẹ ô N ễ T T ộ o ô N ô S o 10/2001, T (mẹ ô P) ó ô S 30.000.000 ..”(BL 80, 81), tại Biên bản lấy lời khai ngày 03/7/2020 ông P khai: ..“Năm 2001 T m V N m … T ½ ó o ô N ô S”(BL 76), tại Bản tường trình ngày 21/01/2019 của ông Nguyễn Duy P cho rằng:..“T o ầ mì o ô N ô S, ô ( ờ ứ ê mẹ ô T) ỉ ờ ú o ờ o T Xem xét các tài liệu, ch ng c liên quan đến việc quản lý đối với ph n đất còn lại có diện tích 966 m2 ( k ã ầ 821 m2 o ô N ô S) xét thấy, lời khai của ông S, bà T thể hiện n i dung ông Ngô S nh n chuyển nhượng 821 m2 , thủ tục do ông P đ ng tên, ông S thanh toán cho bà T 29,9 lượng vàng, tương ng 9.259 USD, theo yêu c u của bà T, vợ chồng ông S, bà T đã chi 4.659 USD cho ph n đất 966 m2 còn lại, thanh toán cho bà T 46.000 USD và 360.000 đồng, n i dung các khoảng chi phí đối với thửa đất còn lại có diện tích 966 m , thể hiện tại tài liệu “C phí đất C” như sau, tính từ ngày 28/10/ 2021đến ngày 17/4/2022 ông S, bà T đã chi 2.033.000 đồng và 3.800 USD, trong đó có những khoảng tiền liên quan đến việc làm thủ tục đối với thửa đất 966 m2 , như “ o ; o m ở ỡ ; ổ ỏ ì H ; P ộ ơ...” Tại Bản “D ễ ” từ ngày 19/8/2002 đến ngày 24/9 thể hiện ông P nh n m t số khoảng tiền từ ông S, bà T như: “T m ứ m 200U D; P ừ 1 000 000 ; P ở 1 000 000 ; P ă o 200 000 ; P ố ừ 1 000 000 ; T ô , â , ố 1 400 000 …”(Bú 35, 35 ã ố ố ), các tài liệu này đều có ông P ký xác nh n nh n tiền, tại phiên tòa phúc thẩm ông P cũng đã thừa nh n các chữ ký trong các tài liệu nêu trên là của ông P. Như v y, cho thấy các khoảng tiền chi phí đối với ph n diện tích đất 966 m2 còn lại là nguồn tiền của bà T, do vợ chồng ông S, bà T quản lý chi giúp cho bà T, lời khai của bà T, anh P là mâu thuẩn, các ch ng c , tại liệu do anh P và bà T đưa ra không ch ng minh được bà T với bà T mua chung thửa đất số 15, tờ bản đồ 15, tổ 13, khóm N, phường N. Mặc khác, bà T và ông P khai, bà T và bà T mua chung thửa đất nhưng mỗi người bao nhiêu tiền (vàng), được quyền sử dụng diện tích bao nhiêu m , thì bà T, ông P cũng không ch ng minh được. Đối với n i dung kháng nghị cho rằng về giá trị đất trong các Hợp đồng là chênh lệch so với thực tế để làm rõ hợp đồng giả tạo, xét thấy, tại thời điểm giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành định giá tài sản cụ thể, cho thấy, việc ghi giá thấp trong các Hợp đồng nhằm mục đích trốn thuế Nhà nước là vi phạm pháp lu t, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Duy P, bà Nguyễn Thị Mỹ C với ông Vĩnh T bà Nguyễn Duy Bảo T sau khi đã xảy ra tranh chấp, ngoài ra, còn có nhiều n i dung khác thể hiện không ngay tình như ông P chỉ đ ng tên giúp cho người khác, bà C không liên gì đến tài sản, bà T là em ru t của ông P, là người trong gia đình ông P, với những phân tích nêu trên, tuy lời khai của ông P, bà T có khác với lời khai bà T, nhưng xem xét nhiều tài liệu, ch ng c khác cho thấy Toà án cấp sơ thẩm thu th p ch ng c đ y đủ, đã làm rõ n i dung vụ việc tranh chấp, việc tiến hành đối chất là không c n thiết, không vi phạm Điều 97, 100 B lu t tố tụng dân sự, đã có cơ sở xác định thửa đất tại số 15, tờ bản đồ 15, tổ 13, khóm N, phường N là do bà Nguyễn Thị T nhờ bà Nguyễn Thị T giao dịch mua giúp, bà T nhờ ông Nguyễn Duy P đ ng tên trên Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tại Bản án sơ thẩm đã xác định quyền sử dụng đất, tài sản nhà ở, công trình xây dựng khác và cây cối trên đất của bà Nguyễn Thị T là có căn c pháp lu t. Do v y, H i đồng xét xử không chấp nh n n i dung kháng nghị và kháng cáo của ông P, bà T liên quan n i dung thu th p đánh giá ch ng c nêu trên. [1.2]. Xem xét Kháng nghị của Viện trưởng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà và kháng cáo của ông P, bà T cho rằng Bản án sơ thẩm áp dụng không đúng quy định, điều kiện của Lu t đất đai, cụ thể, tại văn bản Kháng nghị cho rằng Bản án sơ thẩm vi phạm Điều 169, Điều 188 và Điều 190 Lu t đất đai; ông P, bà T cho rằng Bản án sơ thẩm vi phạm điểm b, khoản 2, Điều 8, Điều 159 Lu t nhà ở, điểm đ, khoản 1, Điều 169 và khoản 1, Điều 186 Lu t đất đai, xét thấy, thửa đất số 15 tờ bản đồ số 15 tổ 13 khóm N, phường N theo Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất là đất trồng cây lâu năm, nguồn gốc do nh n chuyển nhượng, không phải do nhà nước giao, năm 2018 UBND thành phố N đã cấp “G ứ , ở ở k ắ ê ”, loại đất trồng cây lâu năm, do bà Nguyễn Thị T là người nước ngoài, sau khi nh n chuyển nhượng đã chấp hành điều kiện, quy định của Lu t đất đai, đã nhờ ông Nguyễn Duy P đ ng tên giúp, nhưng do ông P tự ý chuyển nhượng đất cho người khác nên xảy ra tranh chấp, tại Bản án sơ thẩm đã xác định quyền tài sản thu c về bà T, theo quy định tại điểm k, khoản 1, Điều 169 Lu t đất đai quy định như sau: “Tổ ứ , ộ ì , â , ờ V N m ở o … … eo o T â â ,”, như v y, thông qua việc giải quyết tranh chấp, tại Bản án sơ thẩm đã xem xét, xác định và công nh n quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất có diện tích 966 m2 là của bà Nguyễn Thị T, nên đã bu c ông Nguyễn Khắc H phải giao trả thửa đất cho bà Nguyễn Thị T là phù hợp quy định của Lu t đất đai và quy định của B lu t dân sự, tuy nhiên, đồng thời việc chấp nh n yêu c u khởi kiện đòi lại quyền sử dụng đất và tài sản của bà T thì tại Bản án sơ thẩm cũng đã ghi nh n sự tự nguyện tặng cho toàn b quyền sử dụng đất, tài sản trên đất sang cho ông Huỳnh Tấn P là người hiện ở Việt Nam, Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa ông P vào tham gia tố tụng, Bản án sơ thẩm ghi nh n việc tặng cho không có ai có yêu c u gì, bà Nguyễn Thị T không đ ng tên trên Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, các cơ quan hành chính, quản lý đất đai cũng không cấp bất kỳ m t thủ tục hành chính gì liên quan quyền sử dụng đất cho bà T, như v y, quyền và lợi ích hợp pháp của bà T được đảm bảo, ông P là người thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo đúng quy định của Lu t đất đai, do v y, H i đồng xét xử không chấp nh n kháng nghị và kháng cáo về n i dung nêu trên. [1.3]. Đối với n i dung Kháng nghị cho rằng Bản án sơ thẩm đánh giá ch ng c không đúng, vi pạm Điều 108 B lu t Tố tụng dân sự, xét thấy,như đã nh n định ở ph n trên (1.1) nói trên, việc xem xét đánh giá ch ng c trong vụ án đòi hỏi phải toàn diện, xem xét nhiều loại tài liệu ch ng c , tại Biên bản phiên toà sơ thẩm, ông P cho rằng ông không hề nh n m t khoản tiền nào từ bà T, ông S, nhưng tại các tài liệu “ C C Dê”, “B ễ ”(BL34,35), tại phiên tòa phúc thẩm, ông P cũng đã thừa nh n đó là chữ ký của mình, các khoảng tiền ông P có ký là ông P có nh n, việc trích dẫn chỉ m t khoảng tiền chi trả cho bà S, ông P không thừa nh n, để cho rằng Bản án sơ thẩm đánh giá ch ng c không đúng là chưa xác đáng, việc trả tiền nhà cho bà S dựa trên lời khai của bà S, bà T, bà T là có th t, phù hợp với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, do đó, đã ch ng minh được việc thông qua bà T (vợ ông S), ông P đã nh n nhiều khoản tiền của bà T để làm thủ tục hồ sơ, cũng như chi phí đối với thửa đất 966 m2 , có căn c xác định bà T là chủ tài sản các công trình trên đất, việc đánh giá ch ng c của Tòa án cấp sơ thẩm là đúng quy định của B lu t Tố tụng dân sự. [1.4]. Đối với n i dung Kháng nghị cho rằng: N i dung tuyên tại ph n Quyết định của Bản án sơ thẩm đã tuyên không đảm bảo cho việc thi hành án, xét thấy, tại Bản án sơ thẩm đã xác định không đ y đủ, cụ thể về thửa đất và tài sản gắn liền trên thửa đất xét thấy, theo Biên bản xem xét thẩm định ngày 11/6/2019; Biên bản định giá tài sản ngày 12/3/2020 và Biên bản định giá tài sản ngày 21/01/2021 của Tòa án cấp sơ thẩm thì trên hiện trạng thửa đất số 15, tờ Bản đồ số 15, tổ 13, N, N, diện tích 966m2 có m t số tài sản bao gồm: Móng đá chẻ xây cao hai lớp (40cm), dài 61,74m, m t nền nhà cũ (mái đã bị bong tróc, không có xà gồ, không có cửa) nền láng xi măng, tường xây gạch 10cm, m t cây xoài loại C. Nhưng tại ph n Quyết định của Bản án sơ thẩm chỉ ghi nh n việc tặng cho quyền sử dụng đất, tên số thửa đất và tài sản ghi tại ph n Quyết định của Bản án không đ y đủ có khả năng khó khăn cho việc thi hành án,mặc khác, tại phiên tòa phúc thẩm theo “ ơ ì ý k ” ngày 22/7/2022 của bà T trình bày, trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên n i dung tặng cho đối với ông Huỳnh Tấn P của Bản án sơ thẩm thì bà T tự nguyện tặng cho toàn b ph n tài sản hiện có trên thửa đất cho ông Huỳnh Tấn P, do v y H i đồng xét xử chấp nh n m t ph n Kháng nghị, sửa ph n Quyết định của Bản án sơ thẩm,xác định rõ về thửa đất, tài sản trên đất nhằm đảm bảo cho việc thi hành án. [1.5]. Xem xét Kháng nghị đối với ph n án phí sơ thẩm: Xét thấy, tại giai đoạn sơ thẩm, bà T không có đơn xin miễn án phí và tài liệu kèm theo, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã nh n định thiếu chính xác và miễn án phí cho bà T là chưa đúng quy định của pháp lu t, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà về n i dung trên là có căn c , tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bà T đã gửi Đơn xin miễn án phí, nh n thấy bà Nguyễn Thị T sinh năm 1940, ông Huỳnh Tấn P sinh năm 1955,là đối tượng người già, không còn khả năng lao đ ng, bà T sống phụ thu c tiền trợ cấp, do v y, căn c điểm đ, Điều 12, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về án phí, lệ phí Tòa án, H i đồng xét xử xét chấp nh n miễn án phí cho bàNguyễn Thị T và ông Huỳnh Tấn P. [2]. Xem xét kháng cáo của ông Vĩnh T và ông Nguyễn Khắc H xét thấy: [2.1]. Với những phân tích tại ph n (1), nói trên cho thấy quyền sử dụng thửa đất diện tích 966 m2 tại tờ bản đồ số 15 tổ 13, khóm N, phường N không phải của ông Nguyễn Duy P, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm ông P đều trình bày chỉ là người đ ng tên trên Giấy ch ng nh n giúp cho người khác, mặt khác, bà Nguyễn Thị Mỹ C không liên quan gì đến thửa đất, việc vợ chồng ông P và bà C ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Vĩnh T, bà Nguyễn Dung Bảo T (em ru t ông P) nhằm tẩu tán tài sản, không ngay tình theo quy định tại Điều 133 B lu t dân sự, hơn nữa, như Bản án sơ thẩm đã nh n định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau khi đã phát sinh tranh chấp và ghi không đúng giá trị nhằm trốn thuế là có căn c , do v y, Tại Bản án sơ thẩm đã áp dụng các Điều 117, 123, 124 và 131 B lu t dân sự tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông P và bà C với vợ chồng ông Vĩnh T, bà Nguyễn Dung Bảo T vô hiệu là có căn c , đúng pháp lu t. Sau khi nh n chuyển nhượng ông Vĩnh T bà T tiếp tục ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho ông Nguyễn Khắc H thì thửa đất đã phát sinh tranh chấp, hơn nữa, C nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố N từ chối giải quyết hồ sơ chỉnh lý biến đ ng, không đủ điều kiện chuyền nhượng theo quy định tại Điều 188 Lu t đất đai năm 2013, vì v y, Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Vĩnh T, bà Nguyễn Duy Bảo T với ông Nguyễn Khắc H bị vô hiệu là có căn c , đúng pháp lu t. [2.2]. Xem xét kháng cáo của ông P, bà T, ông T và ông H liên quan đến việc giải quyết h u quả hợp đồng vô hiệu, xét thấy: Theo những nh n định nêu trên, do các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông P, bà C với ông T, bà T và giữa ông T, bà T với ông Nguyễn Khắc H đều vô hiệu do trái pháp lu t, nhưng do ông P, ông Vĩnh T và ông Nguyễn Khắc H đều yêu c u giữ nguyên các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho rằng quyền sử dụng thửa đất là của mình nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành định giá tài sản và giải quyết h u quả của hợp đồng vô hiệu là nằm trong phạm vi yêu c u và nhằm giải quyết triệt để vụ án là có cơ sở pháp lu t, không vi phạm khoản 1, Điều 5 B lu t Tố tụng dân sự. Về giá trị hoàn trả do hợp đồng vô hiệu không có đương sự nào có yêu c u gì nên H i đồng xét xử không xem xét. Đối với việc hủy Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00007 QSDĐ/NHNT do UBND thành phố N cấp ngày 01/02/2002 cho ông Nguyễn Duy P và hủy Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH04603 do UBND thành phố N cấp ngày 18/7/2018 cho ông Nguyễn Duy P, chỉnh lý biến đ ng sang tên cho ông Vĩnh T ngày 24/8/2018, ông P không đề c p gì, với những nh n định nêu trên, H i đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên như ph n Quyết định của Bản án sơ thẩm. [2.3]. Đối với việc ông P yêu c u áp dụng n lệ số 02/2016/ L ngày 06/4/2016 của H i đồng Thẩm Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy, theo trình bày và yêu c u của ông P cho rằng bà T (mẹ ông P) với bà T bỏ tiền mua chung thửa đất, ph n 966m2 , yêu c u không chấp nh n yêu c u khởi kiện của bà T, do v y Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng n lệ số 02/2016/ L là đúng, xem xét quá trình nhờ ông P đ ng tên giúp thì ông P cũng đã thừa nh n tại phiên tòa phúc thẩm rằng bà T đã có nhiều khoảng hỗ trợ cho ông P, bà T trong quá trình nhờ mua và trông coi thửa đất, tuy nhiên, tại Bản án sơ thẩm cũng đã xem xét, xác định được công s c trong việc bảo quản, giữ gìn và quản lý đối với thửa đất của ông Nguyễn Duy P, bu c bà Nguyễn Thị T thanh toán 20% giá trị thửa đất, tương ng số tiền 643.356.000 đồng ( ăm ố m ơ ăm ăm m ơ ),để trả tiền công s c quản lý, trông coi của ông P là đã v n dụng tình huống của n lệ số 02/2016/ L, đáp ng công s c tương ng, giải quyết có lý, có tình và phù hợp pháp lu t, do v y không chấp nh n kháng cáo của ông P. Từ các nh n định nêu trên, H i đồng xét xử chấp nh n m t ph n kháng nghị của Viện trưởng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà, không chấp nh n kháng cáo của ông Nguyễn Duy P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ bà Nguyễn Thị T, ông Vĩnh T và ông Nguyễn Khắc H. Sửa m t ph n Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà. [3]. Về án phí: Đối với án phí sơ thẩm H i đồng xét xử chỉ xem xét sửa ph n án phí sơ thẩm có kháng nghị, các Quyết định khác về án phí sơ thẩm của Bản án sơ thẩm giữ nguyên. Đối với phúc thẩm, do không chấp nh n kháng cáo nên ông ông Nguyễn Duy P, bà Nguyễn Thị T, ông Vĩnh T, ông Nguyễn Khắc H phải chịu theo quy định của pháp lu t. [4]. Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 02/2019/QĐBPBĐ ngày 15/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp được tiếp tục duy trì cho đến khi thi hành án xong. Vì ê ê ,
QUYẾT ĐỊNH
Căn c khoản 1, khoản 2, Điều 308, Điều 309 B lu t tố tụng dân sự. Chấp nh n m t ph n Quyết định kháng nghị của Viện trưởng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hoà, sửa m t ph nBản án dân sự sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 09/3/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà về n i dung xác định số và tài sản trên thửa đất để đảm bảo việc thi hành bản án; ph n án phí sơ thẩm đối với bà T. Không chấp nh n kháng cáo của ông P, bà T, ông T và ông H, giữ nguyêncác n i dung khác của Bản án sơ thẩm số 05/2022/DS-ST ngày 09/3/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà. Căn c khoản 1 Điều 34 B lu t Tố tụng dân sự; p dụng các Điều 115;Điều 117; Điều 123; Điều 124; Điều 131; Điều 166 B lu t Dân sự năm 2015; khoản 7 Điều 12; điểm k, khoản 1 Điều 169; Điều 188 Lu t Đất đai năm 2013; X 1. Chấp nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về đòi tài sản là quyền sử dụng đất. 1.1. Xác định thửa đất số 15, tờ bản đồ số 15, tổ 13 N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, có diện tích 966m2 , đất trồng cây lâu năm (T o ó ó 556,0m2 ộ o o ô ); trên đất có móng đá chẻ xây cao 02 lớp (40cm), chiều dài 61,74 mét, 01 căn nhà cũ (m ã o ó , k ô ó , k ô ó ), nền láng xi măng, tường xây gạch 10cm và 01 cây xoài loại C là tài sản thu c sở hữu của bà Nguyễn Thị T (Có ơ k m theo B ơ ẩm). 1.2. Bu c ông Nguyễn Khắc H phải giao trả cho bà Nguyễn Thị T nhà đất được nêu ở mục 1.1. 1.3. Ghi nh n sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị T tặng cho ông Huỳnh Tấn P quyền sử dụng 966m2 đất và toàn b nhà cửa, tài sản gồm móng đá chẻ xây cao 02 lớp (40cm), chiều dài 61,74 mét, 01 căn nhà cũ (m ã o ó , k ô ó , k ô ó ), nền xi măng, tường gạch 10cm và 01 cây xoài loại C trên thửa đất số 15, tờ bản đồ số 15, tổ 13 ( ứ ố 01, ổ 24 â ), cụm dân cư N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Ông Huỳnh Tấn P liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để l p thủ tục xin cấp Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất theo quy định của pháp lu t. 1.4. Ông Huỳnh Tấn P phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Duy P tiền công s c trong việc bảo quản, giữ gìn và quản lý, trông coi việc chặt dừa, đổ đất, xây móng khuôn viên đất là 643.356.000 đồng ( ăm ố m ơ ăm ăm m ơ ) 2. Chấp nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về yêu c u tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, cụ thể: 2.1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/8/2018 giữa ông Nguyễn Duy P và bà Nguyễn Thị Mỹ C với ông Vĩnh T ( Vă Cô ứ X ứ ố ô ứ 8119, Q ố 03/2018 TP/CC- CC/H GD) là vô hiệu. Bu c ông Nguyễn Duy P và bà Nguyễn Thị Mỹ C phải trả lại cho ông Vĩnh T tiền chuyển nhượng đất đã nh n là 380.000.000 đồng và tiền bồi thường thiệt hại là 1.418.390.000 đồng. Tổng c ng là 1.798.390.000 đồng (Mộ ăm m ơ m ăm m ơ ) 2.2. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/02/2019 giữa ông Vĩnh T và bà Nguyễn Duy Bảo T với ông Nguyễn Khắc H ( Vă Cô ứ X ứ ố ô ứ 1025, Q ố 01/2019 TP/CC- CC/H GD) là vô hiệu. Bu c ông Vĩnh T và bà Nguyễn Duy Bảo T phải trả lại cho ông Nguyễn Khắc H tiền chuyển nhượng đất đã nh n là 500.000.000 đồng và tiền bồi thường thiệt hại là 1.358.390.000 đồng. Tổng c ng là 1.858.390.000 đồng (M t tỷ tám trăm năm mươi tám triệu ba trăm chín mươi ngàn đồng). 3. Chấp nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về yêu c u hủy Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất và chỉnh lý sang tên trên giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, cụ thể: 3.1. Hủy Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất số 00007 QSDĐ/NH-NT do UBND thành phố N cấp ngày 01/02/2002 cho ông Nguyễn Duy P. 3.2. Hủy Giấy ch ng nh n quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH04603 do UBND thành phố N cấp ngày 18/7/2018 cho ông Nguyễn Duy P, đã chỉnh lý biến đ ng sang tên cho ông Vĩnh T ngày 24/8/2018. 4. Về chi phí tố tụng: Các bên đương sự đã thanh toán đủ chi phí tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm. Quy : Kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 B lu t Dân sự năm 2015. - Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Lu t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự. 5. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 02/2019/QĐBPBĐ ngày 15/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho đến khi thi hành án xong. 6. Về án phí: p dụng các Điều 12; Điều 27; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i quy định về án phí và lệ phí Tòa án. 6.1 Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T và ông Huỳnh Tấn P. Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị T 300.000 đồng tiền tạm ng án phí dân sự sơ thẩm mà bà T đã n p theo Biên lai thu tiền tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số /2016/0000716 ngày 10/10/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. - Ông Nguyễn Duy P và bà Nguyễn Thị Mỹ C phải n p 65.951.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm. - Ông Vĩnh T và bà Nguyễn Duy Bảo T phải n p 67.751.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm. 6.2 Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Duy P và bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng; ông Vĩnh T, ông Nguyễn Khắc H mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí, ông Nguyễn Duy P và bà Nguyễn Thị T; ông Vĩnh T và ông Nguyễn Khắc H được đối trừ số tiền đã n p tạm ng theo các Biên lai số 0009872, ngày 23/3/2022 ( o N ễ T Mỹ C ộ ); Biên lai số 0009886, ngày 15/4/2022 và Biên lai số 0009888, ngày 20/4/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh khánh Hoà. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - V m ố k m II – TANDTC; - VK NDCC Nẵ ; - TAND ỉ K Ho ( ); - C THA â ỉ K Ho ( ); - C ơ ; - L Vă , ơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Công Thi |