- Tranh chấp gì? án hình sự — "ly ton hoi trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Tòn H (tức Lý Văn H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------- Bản án số: 177/2020/HSST Ngày 25/9/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu H
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc T; ông Nguyễn S.
Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Thu T- Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Ông Trần Mạnh H - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 25/9/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 181/2020/TLST-HS ngày 26/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/QĐXXST-HS ngày 11/9/2020 đối với bị cáo:
Lý Tòn H (tên gọi khác: Lý Văn H), sinh năm 1997; HKTT: Thôn N, xã A, huyện P, tỉnh B.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn P, sinh năm 1978 và bà Lý Mùi L, sinh năm 1974; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ, con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 04/3/2020, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh B khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lý Tòn H. Tại Bản án số 16/2020/HSST, ngày 16/9/2020, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh B xử phạt 06 tháng tù giam về tội „‟Trộm cắp tài sản‟‟- Hiện bản án chưa có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2020 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1993; HKTT: Số nhà 598, tổ 21, khu N, phường K, thị xã Đ, tỉnh Q - vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ ngày 24/9/2019, tại quán bia 368, khu 10, phường Đ, thành phố B, tỉnh B, Lý Tòn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu VietThai màu đỏ, đen, bạc, BKS: 14AZ - 021.32 đã qua sử dụng, trị giá 6.500.000đồng của chị Nguyễn Thị Kiều T. Sau đó H đã sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện P, tỉnh B.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh B bàn giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu VietThai màu đỏ, đen, bạc, BKS: 14AZ - 021.32, số khung BFN4HH003696, số máy FMBVT5003696 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 12/6/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu VietThai màu đỏ, đen, bạc, BKS: 14AZ - 021.32.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐ ngày 12/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu VietThai màu đỏ, đen, bạc, BKS: 14AZ - 021.32 đã qua sử dụng trị giá: 6.500.000 đồng.
Cáo trạng số: 156/CT-VKSNDTPBN ngày 26/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Lý Tòn H (Lý Văn H) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lý Tòn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố: Khoảng 23 giờ ngày 24/9/2019, H đi taxi từ phòng trọ ở huyện T, tỉnh B lên quán bia 368, địa chỉ: khu 10, phường Đ, thành phố B, tỉnh B để ở và làm việc tại quán này. Khi đến cửa quán, H mở cổng quán nhìn thấy bên trong sân có dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu VietThai màu đỏ, đen, bạc, BKS: 14AZ - 021.32. H quan sát xung quanh không có ai trông coi nên này sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô bằng cách tiến lại gần xe thấy xe không khoá cổ khoá càng. H dắt lùi xe ra đường, quay đầu xe và dùng hai tay tháo mặt nạ phía trước của xe, đấu dây điện, nổ máy và đi thẳng về nhà H tại thôn N, xã A, huyện P, tỉnh B. Sau đó, H sử dụng chiếc xe trộm cắp trên làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện P, tỉnh B thì bị bắt giữ.
Bị hại chị Nguyễn Thị Kiều T vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai có trong hồ sơ thể hiện chị là nhân viên của quán bia 368, do mất chìa khóa xe nên chị gửi xe tại quán. Sáng ngày 25/9/2019 chị được nhân viên quán thông báo xe bị kẻ gian trộm. Ngày 18/6/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu VietThai màu đỏ, đen, bạc, BKS: 14AZ - 021.32 cho chị, chị đã nhận xe và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Tòn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lý Tòn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 12/6/2020.
Vấn đề trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Kiều T đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu VietThai màu đỏ, đen, bạc, BKS: 14AZ - 021.32. Nay chị T không yêu cầu H phải bồi thường gì khác nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo không tham gia tranh luận gì với quan điểm của Kiểm sát viên. Bị cáo chỉ xin hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Lý Tòn H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 24/9/2019, tại quán bia 368 ở khu 10, phường Đ, thành phố B, tỉnh B, Lý Tòn H có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu VietThai màu đỏ, đen, bạc, BKS: 14AZ - 021.32 đã qua sử dụng, trị giá 6.500.000đồng của chị Nguyễn Thị Kiều T. Hành vi phạm tội do một mình bị cáo thực hiện, không ai biết và không ai trợ giúp bị cáo, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh và gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố B. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do bản tính lười lao động, muốn có tiền phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Cáo trạng truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và cân nhắc những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với các quy định pháp luật và xét đề nghị của Đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, biết tuân thủ pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Kiều T đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu VietThai màu đỏ, đen, bạc, BKS: 14AZ - 021.32. Nay chị T không yêu cầu H phải bồi thường gì khác nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lý Tòn H (tức Lý Văn H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, Điều 173; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Xử phạt bị cáo Lý Tòn H (tức Lý Văn H) 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 12/6/2020. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án xử vắng mặt.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND thành phố Bắc Ninh; - CQĐT CA thành phố Bắc Ninh; - Trại TGCA tỉnh Bắc Ninh; - CCTHADS thành phố Bắc Ninh; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hồng |