- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật hình sự truy tố Nguyễn Trọng N; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 177/2020/HSST Ngày: 11/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Đinh Thị Quỳnh An
2/ Bà Huỳnh Thị Tuyết Vân
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Thế Chung – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hạo– Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 183/2020/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 670/2020/HSST-QĐ ngày 26/8/2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng N , Giới tính: Nam. Sinh năm: 1991; tại: Sóc Trăng; Hộ khẩu thường trú: Ấp H Thành, xã Xuân H, huyện Kế S, tỉnh Sóc Trăng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Họ tên cha: Không xác định. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S, đã chết. Hoàn cảnh gia đình: có Vợ: Lê Nguyễn Thùy Trang, đã ly hôn, có 01 người con, Sinh năm 2009;
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 151/2009/HSST ngày 04/11/2009 của Tòa án nhân dân Huyện Hóc Môn xử phạt 02 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 2 điều 136 BLHS năm 1999 chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2010.
Tiền sự: Từ ngày 22/7/2015 đến ngày 22/7/2017 chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 431 ngày 08/10/2015 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2012/HSST ngày 06/11/2012 của Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 04 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm c, điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS 1999 chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/3/2015 chưa chấp hành phần án phí (BL 39).
Bị tạm giam ngày 06/4/2020- (có mặt).
Người bị hại: Anh Nguyễn Thành Đ , 1995
Trú tại: T, tổ 3, khu phố 1, phường T, Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh – (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 06/4/2020 Nguyễn Trọng N điều khiển xe mô tô, biển số 59G1-484.15 phía sau chở Nguyễn Thị Hồng Loan (là bạn) lưu thông trong đường hẻm số 579 đường Trường Chinh, khi đến trước số nhà 9T, Tổ 13, Khu phố 1, phường Tân Thới Nhất, Quận 12 thì phát hiện thấy anh Nguyễn Quốc Đ đang sử dụng điện thoại Nhân nảy sinh ý định cướp giật điện thoại của anh Đ . Lúc này, Nhân lái xe quay lại ép sát người anh Đ và dùng tay giật được điện thoại của anh Đ đang cầm trên tay rồi bỏ chạy ra đường TTN01 hướng đi Quốc lộ 1A. Anh Đ tri hô và được quần chúng hỗ trợ đuổi theo Nguyễn Trọng N bắt quả tang cùng vật chứng là điện thoại Samsung Galaxy S8.
Bản cáo trạng số 183/CTr-VKS, ngày 21/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng N về tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Trọng N khai nhận hành vi cướp giật điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 của anh Nguyễn Quốc Đ thì bị bắt cùng tang vật. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp quy định tại các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù; Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nhân không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Do nghiện ma túy, muốn có tiền để sử dụng, Nguyễn Trọng N điều khiển xe mô tô, phía sau chở Nguyễn Thị Hồng Loan lưu thông. Phát hiện thấy anh Nguyễn Quốc Đ đang sử dụng điện thoại, Nhân nảy sinh ý định cướp giật. Nhân lái xe quay lại ép sát người anh Đ và dùng tay giật được điện thoại của anh Đ đang cầm trên tay rồi bỏ chạy ra đường TTN01 hướng đi Quốc lộ 1A. Anh Đ tri hô và được quần chúng hỗ trợ đuổi theo Nguyễn Trọng N bắt quả tang cùng vật chứng
Hành vi nêu trên của Nguyễn Trọng N đã phạm vào tội Cướp giật tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo: Theo Kết luận số 76/KLĐG ngày 14/4/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Quận 12, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 đã qua sử dụng, có giá 2.275.000 đồng.
Hành vi của Nguyễn Trọng N điều khiển xe mô tô, lợi dụng sự sơ hở của người có tài sản đã gằng giật lấy tài sản có trị giá là 2.275.000 là dùng thủ đoạn nguy hiểm. Trước đó bị cáo đã bị xử phạt 04 năm tù về hành vi Cướp giật tài sản, theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 444/GCN ngày 11/3/2015 của Trại giam Xuân Lộc có chữa ký nhận của Nguyễn Trọng Nhận. Bị cáo Nhân còn phải tiếp tục chấp hành bao gồm: Liên đới bồi thường dân sự 2.853.000 đồng, án phí dân sự sơ thẩm 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Bị cáo chưa đóng án phí và phần liên đới bồi thường nên không được xóa án tích, lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng các điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự truy tố Nguyễn Trọng N là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương. Ngoài ra bị cáo còn có nhân thân xấu năm 2009 bị xử phạt 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản, 01 tiền sự buộc đưa đi cai nghiện từ năm 2015 đến 2017. Bị cáo đã được đưa đi giáo dục nhiều lần trong nhiều năm nhưng không chịu sửa chữa. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục bị cáo, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại….để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Người bị hại đã nhận được lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave S, Cơ quan điều tra đã trả cho cho chủ sở hữu là hợp lý.
Nguyễn Thị Hồng Loan là người ngồi sau xe của Nhân do Loan không biết Nhân thực hiện hành vi cướp giật nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng các điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2020.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01) - VKSND Quâ ̣n 12; (02) - THADS Quâ ̣n 12; (01) - Phòng PC53 CA Tp. HCM; (01) - Công an Quâ ̣n 12; (01) - UBND nơi bị cáo cư trú; (01) - Bị cáo; (01) - Người tham gia tố tụng khác; (01) - Lưu hồ sơ vụ án. T 18/. (05) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |