vanban.org

Bản án 177/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 04/09/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng d n s; Điều 129 Bộ luật D n s; Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2020/DS-PT
Ngày: 07-7-2020
V/v Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐT

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Ng Tấn ợi.

Các Thẩm phán:

ng Sỹ Danh Đạt

Bà Nguy n u nh Th ư ng Thủy

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Chí T m – Thư ký Tòa án nh n d n t nh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ĐT tham gia phiên toà:

Ông Lê Thành Biên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28/5/2020; ngày 22/6/2020 và ngày 07/7/2020 tại trụ sở Tòa án nh n d n t nh ĐT xét xử phúc th m c ng khai vụ án d n s thụ lý số: 162/2020/T T-DS ngày 17 tháng 02 năm 2020, về vi c: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do bản án d n s s th m số: 72/2019/DS-ST, ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nh n d n huy n TN b kháng cáo;

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc th m số: 210/2020/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2020 giữa các đư ng s :

1. Nguyên đơn: Đỗ Thúy L , sinh năm 1980 (có mặt);

Đ a ch : Khóm 3, th trấn TC, huy n TN, ĐT.

2. Bị đơn: Nguy n Văn Tr, sinh năm 1947.

Đ a ch : Khóm 3, th trấn TC, huy n TN, t nh ĐT.

Đại di n theo ủy quyền của ng Nguy n Văn Tr là bà Nguy n Th H, sinh năm 1959; Đ a ch : Số 48, đường 5A, khu phố 7, phường Bình ưng òa A, quận BT, thành phố HCM; Tạm trú: Số 71, đường Võ Văn Ki t, Khóm 3, th trấn TC, huy n TN, t nh ĐT.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Trần Th B, sinh năm 1952;

Đ a ch : Khóm 3, th trấn TC, huy n TN, t nh ĐT.

3.2. Nguy n Văn X, sinh năm 1951;

Đ a ch : Khóm 3, th trấn TC, huy n TN, t nh ĐT.

Đại di n theo ủy quyền của bà Trần Th B và ng Nguy n Văn X là bà Nguy n Th H, sinh năm: 1959; Đ a ch : Số 48, đường 5A, khu phố 7, phường Bình ưng òa A, quận BT, thành phố HCM; Tạm trú: Số 71, đường Võ Văn Ki t, Khóm 3, th trấn TC, huy n TN, t nh ĐT.

3.3. Nguy n Th H, sinh năm 1959 (có mặt);

Đ a ch : Số 48, đường 5A, khu phố 7, phường Bình ưng òa A, quận BT, thành phố HCM.

Tạm trú: Số 71, đường Võ Văn Ki t, Khóm 3, th trấn TC, huy n TN, ĐT.

Người kháng cáo: Nguy n Văn Tr là b đ n.

NỘI D NG V ÁN:

* Nguyên đơn Đỗ Thúy L trình bày: vào năm 2002, bà L có thoả thuận nhận sang nhượng đất của ông Nguy n Văn Tr, đất có chiều ngang là 7,5m, chiều dài là xuống tới bờ s ng kênh Đường Gạo, với số tiền là 1.750.000đ, khi đó có đo bằng thước tay rồi ghi vào giấy, các bên có làm tờ biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002 và có người làm chứng là ng m Văn H1 ký tên, bà L đã giao tiền đủ cho ông Tr. Đến năm 2011, nhà nước xây d ng công trình nâng cấp, mở rộng đường nội ô th trấn TC, phần đất bà L mua của ông Tr trúng vào quy hoạch một phần, di n tích cặp lộ b thu hồi. Ông Tr nhận tiền bồi thường và ông Tr có giao lại cho bà L số tiền bồi thường đất là 29.100.500đ. Đến năm 2018 bà L đi làm thủ tục sang tên để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi cán bộ đ a chính xuống để kiểm tra đo đạc đất thì ông Tr và ông X ngăn cản kh ng cho đo đạc và phát sinh tranh chấp đến ngày hôm nay.

Bà L yêu cầu ông Tr tiếp tục th c hi n hợp đồng chuyển nhượng theo biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002 để chuyển quyền sang tên cho bà L di n tích đất 74,9m2, thửa số 38 và thửa số 42, tờ bản đồ số 93, đất tọa lạc tại khóm 3, th trấn TC, huy n TN, t nh ĐT. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Đối với yêu cầu phản tố của ông Tr yêu cầu bà L trả lại số tiền 29.100.500đ nhận bồi thường tiền đất mà ông Tr đã giao cho bà L vào năm 2012 thì bà L kh ng đồng ý, vì ông Tr đã bán đất cho bà L thì khi đất trúng vào quy hoạch được Nhà nước bồi thường thì ông Tr phải có trách nhi m trả số tiền này lại cho bà L.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn Tr ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H trình bày: Trước đ y ng Đỗ Văn H2 là cha ruột của bà L có cất (xây d ng) một cái nhà sàn ở tạm trên đất của ông Tr để tránh nước lũ, ng Tr đồng ý để ông H2 cất ở tạm. Sau đó, ng Tr có thiếu tiền thủy lợi phí của ông H2 số tiền là 600.000đ thì ông H2 mới làm biên nhận kêu ông Tr ký vào là có thiếu nợ ông H2 nên ông Tr ký chứ ông Tr không hề ký tên vào biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002, vì vậy ông Tr ch ký vào biên nhận là có nợ tiền ông H2, biên nhận này ghi khoảng mười mấy chữ và ông H2 là người giữ biên nhận, lúc ký ông Tr kh ng có đọc lại nội dung ông H2 viết và cũng kh ng có ai đọc lại cho ông Tr nghe, do đó chữ ký trong biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002 bà H kh ng xác đ nh được có phải chữ ký của ông Tr hay không. Vi c bà L cho rằng biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002 này là ông Tr bán đất cho bà L, nếu có bán thì vì sao không ghi rõ ràng họ tên, năm sinh, đ a ch , số chứng minh nhân dân của bên bán và của bên mua, vợ con ông Tr cũng kh ng ký tên vào biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002 này, nếu thật s có vi c mua bán đất tại sao không tiến hành đo đạc th c tế để biết di n tích cụ thể là bao nhiêu, phải có chữ ký của những người giáp ranh lúc đo đất chứ không thể ghi mấy chữ là giấy mua bán hoặc sang nhượng chỗ ở là được. Vi c ông Tr giao tiền bồi thường đất cho bà L là do Tổ hòa giải khóm 3, th trấn TC mời đến làm vi c yêu cầu ông Tr phải trả tiền bồi thường nhà của ông H2 cất trên đất của ông Tr chứ không phải tiền bồi thường đất cho bà L.

Bà H đại di n cho ông Tr kh ng đồng ý theo yêu cầu khởi ki n của bà L. Ngoài ra, phần đất trên ông Tr, ông X đã giao lại cho bà H toàn quyền quyết đ nh. Nay ng Tr và bà L tranh chấp với nhau, còn bà H, ông X không có ý kiến và yêu cầu gì. Đồng thời bà H đại di n ông Tr yêu cầu bà L phải trả lại số tiền bồi thường đất 29.100.500đ mà ng Tr đã giao cho bà L.

Tại bản án sơ thẩm số 72/2019/DS-ST, ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện TN đã xử:

- Chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thúy L đối với ng Nguy n Văn Tr, bà Trần Th B.

Buộc ng Nguy n Văn Tr, bà Trần Th B, ng Nguy n Văn X, bà Nguy n Th H phải liên đới chặt đốn toàn bộ c y cối và di dời một cái miểu trên đất để giao cho bà Đỗ Thúy L di n tích đất 74,9m2 gồm các điểm 3-4-5-13-14-15, thửa số 38, thửa 42 tờ bản đồ số 93, đất tọa lạc tại khóm 3, th trấn TC, huy n TN, t nh ĐT, v Tr đo đạc cụ thể như sau:

* Ô thứ I:

+ ướng đ ng: Đo từ điểm số 13 đến điểm số 14 (giáp v a hè và giáp đường Võ Văn Ki t), có cạnh 2,11m

+ ướng t y: Đo từ điểm số 4 đến điểm số 5 (giáp kênh Đường Gạo), có cạnh là 0,22m.

+ ướng nam: Đo từ điểm số 4 đến điểm số 14 (giáp phần đất còn lại đang tranh chấp), có cạnh là 11,76m.

+ ướng bắc: Đo từ điểm số 5 đến điểm số 13 (giáp đường giao th ng), có cạnh là 11,57m.

Di n tích thửa 38 là 13,5m2

* Ô thứ II:

+ ướng đ ng: Đo từ điểm số 14 đến điểm số 15 (giáp v a hè và giáp đường Võ Văn Ki t), có cạnh 5,42m

+ ướng t y: Đo từ điểm số 3 đến điểm số 4 (giáp kênh Đường Gạo), có cạnh là 4,65m.

+ ướng nam: Đo từ điểm số 3 đến điểm số 15 (giáp đất của ng Nguy n Văn X), có cạnh là 12,83m.

+ ướng bắc: Đo từ điểm số 4 đến điểm số 14 (giáp phần đất còn lại đang tranh chấp), có cạnh là 11,76m.

Di n tích thửa 42 là 61,4m2

(Kèm theo s đồ hi n trạng và s đồ mốc ngày 13/12/2018)

Bà Đỗ Thúy L, ng Nguy n Văn Tr, bà Trần Th B có trách nhi m đến c quan có th m quyền để kê khai, đăng ký và làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy đ nh của pháp luật.

- Kh ng chấp nhận yêu cầu phản tố của ng Nguy n Văn Tr đối với bà Đỗ Thúy L về vi c đòi lại số tiền 29.100.500đ ( ai mư i chín tri u, một trăm nghìn, năm trăm đồng).

- Về chi phí tố tụng khác: Áp dụng khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng d n s : Buộc ng Nguy n Văn Tr và bà Trần Th B có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đỗ Thúy L chi phí xem xét th m đ nh tại chổ và chi phí đ nh giá tài sản số tiền 8.142.000đ (Tám tri u, một trăm bốn mư i hai nghìn đồng).

- Về án phí d n s s th m:

- ng Nguy n Văn Tr và bà Trần Th B được mi n nộp toàn bộ tiền án phí d n s s th m vì ng Nguy n Văn Tr và bà Trần Th B là người cao tuổi theo quy đ nh điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Ngh quyết số 326/2016/ UBTVQ 14, ngày 30/12/2016 quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Bà L kh ng phải nộp tiền án phí d n s s th m, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí d n s s th m đã nộp 187.000đ (Một trăm tám mư i bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số: BG/2015/0003663 ngày 06/7/2018 tại Chi cục Thi hành án d n s huy n TN, t nh ĐT.

Ngoài ra bản án s th m còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ, thời hi u thi hành án của các đư ng s .

Sau khi xét xử s th m, ngày 23/12/2019, ng Nguy n Văn Tr là b đ n kháng cáo toàn bộ bản án s th m số 72/2019/DS-ST, ngày 09 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nh n d n huy n TN.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bà Nguy n Th H đại di n theo ủy quyền của ng Nguy n Văn Tr trình bày: Ông Tr kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc th m sửa Bản án s th m theo hướng kh ng chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Đỗ Thúy L, chấp nhận yêu cầu phản tố của ng Tr, buộc bà L trả lại ng Tr số tiền 29.100.500đ mà ng Tr đã giao cho bà L. Bởi vì, ng Tr kh ng có bán đất cho bà L theo Tờ biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002, vi c ông Tr ký tên vào Biên bản hòa giải ngày 15/01/2012 của Tổ hòa giải khóm 3, th trấn TC và vi c ông Tr giao số tiền bồi thường đất 29.100.500đ thể hi n theo Biên bản hòa giải ngày 15/01/2012 cho bà L là do b phía Tổ hòa giải Khóm 3 đe dọa và ép buộc, do lo sợ nên ng Tr mới ký tên vào Biên bản hòa giải và giao tiền cho bà L mà kh ng có khiếu nại gì.

- Bà Đỗ Thúy L kh ng thống nhất theo yêu cầu kháng cáo của ng Nguy n Văn Tr. Bà L yêu cầu Tòa án cấp phúc th m giữ nguyên bản án s th m, chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà L; kh ng đồng ý trả lại cho ng Tr số tiền 29.100.500đ theo yêu cầu phản tố của ông Tr, do đ y là số tiền mà Nhà nước khi thu hồi đất năm 2011 làm đường nội ô th trấn TC đã bồi thường cho bà L nhưng ng Tr đã nhận thay, sau khi được Tổ Hòa giải khóm 3, th trấn TC hòa giải xong thì vợ chồng ông Tr, bà B đã đồng ý giao tiền cho bà L tại nhà của ông Tr, ch đến năm 2018 khi bà L kê khai đăng ký để được cấp giấy chứng nhận đối với di n tích đất còn lại mà bà L mua của ông Tr thì ông Tr mới tranh chấp.

- Đại di n Vi n kiểm sát nh n d n T nh phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của b đ n ng Nguy n Văn Tr th c hi n đúng quy đ nh và hợp l theo Điều 273 Bộ luật tố tụng d n s (quy đ nh về thời hạn kháng cáo). Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc th m Th m phán đã tu n thủ đúng quy đ nh của Bộ luật tố tụng d n s trong quá trình giải quyết vụ án; ội đồng xét xử đã th c hi n đúng quy đ nh của Bộ luật tố tụng d n s về phiên tòa phúc th m; Thư ký th c hi n đúng quy đ nh của Bộ luật tống tụng d n s ; Các đư ng s đã th c hi n đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy đ nh tại các Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật Tố tụng d n s .

+ Về nội dung: Kiểm sát viên đề ngh ội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n s ; Kh ng chấp nhận kháng của ng Nguy n Văn Tr, giữ nguyên bản án s th m.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài li u và chứng cứ có trong hồ s , được th m tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại di n Vi n kiểm sát, ội đồng xét xử nhận đ nh:

1 Về tố tụng: Tòa án nh n d n huy n TN thụ lý và giải quyết s th m vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp đòi lại tài sản” là đúng quy đ nh tại khoản 2, 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng d n s về quan h tranh chấp và th m quyền của Tòa án. Sau khi xét xử s th m ng Nguy n Văn Tr đã kháng cáo bản án s th m. Vi c ng Tr kháng cáo vào ngày 23/12/2019 là trong thời hạn kháng cáo theo quy đ nh tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng d n s , nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc th m.

[2] Về nội dung vụ án: Năm 2002, ng Nguy n Văn Tr thỏa thuận chuyển nhượng (bán) cho bà Đỗ Thúy L một phần đất có chiều ngang 7,5m, chiều dài từ lộ đến bờ s ng kênh Đường Gạo, với số tiền là 1.750.000đ, các bên có lập Tờ biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002 và có ng m Văn H1 là người cùng xóm chứng kiến ký tên. Bà L đã giao tiền đủ cho ông Tr và ông Tr đã giao đất cho bà L, sau đó bà L và cha là cụ Đỗ Văn H2 sử dụng đất, ông H2 có xây d ng (cất) căn nhà trên đất. Đến năm 2011, Nhà nước xây d ng công trình nâng cấp, mở rộng đường nội ô th trấn TC, phần đất bà L mua của ông Tr trúng vào quy hoạch một phần, di n tích đất cặp đường ĐT855 b thu hồi. Ông Tr nhận tiền bồi thường nhưng kh ng giao tiền lại cho bà L, sau đó bà L yêu cầu Tổ hòa giải khóm 3, th trấn TC hòa giải, theo Biên bản hòa giải ngày 15/01/2012 thì ông Tr thừa nhận có bán phần đất cho bà L như trình bày của bà L và đồng ý giao lại cho bà L số tiền bồi thường đất là 29.100.500đ (ngang 7,5m x dài 6,466m = 48,5m2 x 600.000đ/m2) mà ng đã nhận thay. Đến năm 2018 bà L đi làm thủ tục đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất đối với di n tích còn lại thì ông Tr và ông X tranh chấp. Phần đất tranh chấp giữa bà L và ông Tr có di n tích đất 74,9m2 thuộc một phần thửa số 38, di n tích 13,5 m2 và một phần thửa số 42, di n tích 61,4 m2 cùng tờ bản đồ số 93 đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, tọa lạc tại khóm 3, th trấn TC, huy n TN, t nh ĐT (gọi chung là đất tranh chấp). Nguyên đ n bà Đỗ Thúy L yêu cầu ông Tr tiếp tục th c hi n hợp đồng chuyển nhượng QSD đất theo Tờ biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002, giao đất tranh chấp để bà L được quyền đứng tên. Bà H đại di n theo ủy quyền của b đ n ng Nguy n Văn Tr cho rằng ông Tr kh ng có bán đất tranh chấp cho bà L vào năm 2002, mà ông Tr ch có thiếu tiền thủy lợi phí của ông H2 số tiền là 600.000đ thì ng H2 mới làm biên nhận kêu ông Tr ký vào là có thiếu nợ ông H2 chứ ông Tr không hề ký tên vào Tờ biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002, lúc ký ông Tr kh ng có đọc lại nội dung ông H2 viết và cũng kh ng có ai đọc lại cho ông Tr nghe, vì vậy ông Tr kh ng đồng ý theo yêu cầu khởi ki n của bà L, đồng thời ông Tr yêu cầu phản tố buộc bà L phải trả lại số tiền bồi thường đất 29.100.500đ mà ng Tr đã giao cho bà L.

Tại phiên tòa ngày 28/5/2020 bà Nguy n Th H yêu cầu Tòa án giám đ nh chữ ký của ông Nguy n Văn Tr theo Tờ biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002, nhưng sau đó ngày 10/6/2020 (theo Biên bản lấy lời khai của bà H) bà H xin rút lại yêu cầu giám đ nh, không yêu cầu Tòa án giám đ nh chữ ký của ông Tr nữa và cung cấp tài li u, chứng cứ bổ sung để Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy đ nh của pháp luật.

[3 ội đồng xét xử xét thấy vi c Tòa án cấp s th m chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Đỗ Thúy L là có c sở. Bởi vì bà L đã cung cấp được tài li u, chứng cứ chứng minh ng Tr đã chuyển nhượng đất tranh chấp cho bà L. Vi c ông Tr cho rằng không có chuyển nhượng đất tranh chấp cho bà L là không có c sở. Bởi lẽ, sau khi nhận chuyển nhượng thì bà L cùng cha là cụ H2 đã x y d ng nhà ở trên đất, cho đến khi Nhà nước thu hồi đất năm 2011 thì đất bà L mua của ông Tr được đền bù một phần cặp lộ đường ĐT855, do ng Tr nhận tiền bồi thường thay nhưng kh ng trả tiền lại cho bà L, nên bà L có yêu cầu Tổ hòa giải khóm 3, th trấn TC hòa giải, khi được hòa giải ngày 15/01/2012 thì ông Tr đã thống nhất giao số tiền Nhà nước đã bồi thường cho bà L là 29.100.500đ, đồng thời đã thừa nhận có bán đất cho bà L phù hợp với nội dung Tờ biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002. Điều này cũng phù hợp với lời khai của những người làm chứng như: ng u nh Ngọc L1 (Tổ trưởng hòa giải), ng Nguy n Văn Ch (Trưởng khóm), ng ê Văn D (C ng an viên phụ trách khóm), ng Đinh Xu n T (Khóm đội trưởng), ng Đỗ Văn 3 (Công an viên phụ trách khóm), Đồng Thanh Th (Tổ trưởng tổ nh n d n t quản số 1) là những người tr c tiếp tham gia thành phần hòa giải tại trụ sở khóm 3, th trấn TC vào ngày 15/01/2012, họ đều xác đ nh là ng Tr có chuyển nhượng cho bà L di n tích đất như đã nêu trên và bà L, cụ H2 có cất nhà trên đất tranh chấp; Người làm chứng ng m Văn H1 là người cùng xóm với ng Tr cũng xác đ nh có vi c chuyển nhượng đất tranh chấp từ ng Tr sang cho bà L và ông H1 có ký xác nhận trong Tờ biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26/4/2002, ngoài ra gia đình ng Tr, bà B và bà H, ông X cũng thừa nhận cụ H2 và bà L có xây d ng nhà trên đất tranh chấp vào năm 2002 nhưng kh ng có tranh chấp gì.

Vi c bà H đại di n cho ông Tr cho rằng ông Tr ký tên vào Biên bản hòa giải ngày 15/01/2012 của Tổ hòa giải khóm 3, th trấn TC và vi c ông Tr giao số tiền bồi thường đất 29.100.500đ cho bà L là do b phía Tổ hòa giải Khóm 3 đe dọa và ép buộc, nhưng bà H và ông Tr kh ng cung cấp được tài li u, chứng cứ chứng minh trình bày của mình là có c sở mà th c tế cho thấy sau khi giao tiền cho bà L thì gia đình ng Tr cũng kh ng có khiếu nại gì đến c quan có th m quyền. Nên có đủ c sở chứng minh đất tranh chấp di n tích 74,9m2 là di n tích đất còn lại mà năm 2002 bà L đã mua từ ông Tr sau khi trừ đi di n tích đất đã được Nhà nước bồi thường. Vi c ông Tr, ông X, bà H cho rằng phần đất tranh chấp có phần đất ông X di n tích 31,23m2 là không phù hợp, mà có căn cứ xác đ nh đất tranh chấp là của ông Tr trước đ y đã chuyển nhượng cho bà L, vì di n tích đất của ông Tr khi thu hồi năm 2011 chiều ngang cặp lộ là 29,96m, th c đo ngang là 30,06m (theo S đồ đo đạc hi n trạng ngày 13/12/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huy n TN và C ng văn số 440/BQ DA-BT ngày 22/7/2019 của Ban quản lý d án và phát triển Quỹ đất huy n TN) và theo Biên bản hòa giải ngày 15/01/2012 của Tổ hòa giải khóm 3, th trấn TC cũng thể hi n v Tr đất ông Tr bán cho bà L là từ giáp ranh đất ông X đo đến cách cầu 40cm (04 tất); ngoài ra ông X cũng thừa nhận khi ng H2 cất nhà là trên đất của ông Tr nên ông H2 kh ng hỏi ng X mà ch hỏi ng Tr, trong vụ án này ng X cũng kh ng có yêu cầu đối với đất tranh chấp (Theo các bút lục 100, 233 và 235). Đồng thời vi c ng Tr và ông X cho rằng đất tranh chấp là của các ng đã tặng cho bà H, nên bà H có toàn quyền đ nh đoạt, xét thấy vi c trình bày này của các đư ng s là kh ng phù hợp nên kh ng được chấp nhận, vì vi c này kh ng được th c hi n theo quy đ nh của pháp luật, mặt khác đất tranh chấp đang được Tòa án xem xét giải quyết.

Xét thấy tại thời điểm các bên thỏa thuận chuyển nhượng QSD đất, mặc dù đất của ng Tr chưa được cấp giấy chứng nhận QSD, hợp đồng ch làm giấy tay là chưa tu n thủ theo quy đ nh của pháp luật về hình thức. Nhưng ng Tr đã giao đất cho bà L, đồng thời phía bà L đã trả đủ tiền cho ng Tr và đã x y d ng nhà ở trên đất, sử dụng đất ổn đ nh, c ng khai một thời gian các bên kh ng có tranh chấp. Cho thấy trên th c tế các bên đã th c hi n h n 2/3 nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng; ngoài ra đất tranh chấp đủ điều ki n cấp quyền sử dụng thể hi n theo C ng văn số 948/UBND-NC ngày 02/8/2019 của UBND huy n TN về vi c cung cấp th ng tin trong lĩnh v c đất đai xác đ nh “Sau khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực thì Ủy ban sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định điểm d, khoản 1, Điều 99 của Luật đất đai năm 2013”. Mặt khác sau khi ng Tr giao đất cho bà L năm 2002 và sau khi trả lại tiền bồi thường cho phía bà L năm 2012 thì gia đình ng Tr cũng kh ng tranh chấp gì, cho thấy ng Tr và bà B mặc nhiên thừa nhận vi c chuyển nhượng đất tranh chấp cho bà L, mà ch đến năm 2018 khi bà L kê khai đăng ký QSD đất mới phát sinh tranh chấp. Do đó vi c c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà L và ông Tr năm 2002 đối với đất tranh chấp là phù hợp quy đ nh khoản 2 Điều 129 Bộ luật d n s năm 2015 và theo quy đ nh tại mục 2.3 mục 3 Ngh quyết số 02/2004/NQ- ĐT ngày 10/8/2004 của ội đồng Th m phán Tòa án nh n d n tối cao.

[4] Từ c sở trên, ội đồng xét xử kh ng chấp nhận kháng cáo của ng Nguy n Văn Tr. Giữ nguyên bản án s th m, tuy nhiên cần điều ch nh cách tuyên và điều luật áp dụng cho phù hợp nhằm đảm bảo vi c thi hành án.

[5 Đối với quan điểm và đề ngh của Kiểm sát viên tại phiên tòa h m nay. ội đồng xét xử xét thấy là có c sở, nên được xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[6 Về án phí: Do kháng cáo của ng Nguy n Văn Tr kh ng được chấp nhận nên ng Tr phải ch u án phí d n s phúc th m. Tuy nhiên do ông Tr thuộc di n người cao tuổi và có đ n xin mi n án phí, nên ng Tr được xét mi n án phí d n s s th m và án phí d n s phúc th m theo quy đ nh tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các phần khác của bản án s th m kh ng có kháng cáo, kháng ngh có hi u l c pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Vì các lẽ trên;

Q YẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng d n s ;

1. Kh ng chấp nhận kháng cáo của b đ n ng Nguy n Văn Tr;

2. Giữ nguyên bản án s th m;

Áp dụng khoản 2, 3, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 148, Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 188, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng d n s ; khoản 2 Điều 129, Điều 163, Điều 166 Bộ luật D n s năm 2015; Các Điều 101, 166, 170, 179 và Điều 203 uật đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 27 và Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi ki n của bà Đỗ Thúy L đối với ng Nguy n Văn Tr;

C ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ng Nguy n Văn Tr với bà Đỗ Thúy L theo Tờ biên nhận sang nhượng chỗ ở ngày 26 tháng 4 năm 2002.

Giao cho bà Đỗ Thúy L được QSD đất di n tích 74,9m2 trong phạm vi các mốc 3-4-5-13-14-15-3, thuộc một phần thửa số 38 và một phần thửa số 42, cùng tờ bản đồ số 93, đất tọa lạc tại khóm 3, th trấn TC, huy n TN, t nh ĐT, v Tr đo đạc cụ thể như sau:

* Ô thứ 01, thuộc một phần thửa 38 có diện tích 13,5m2:

+ ướng đ ng: Đo từ mốc số 13 đến mốc số 14 (giáp v a hè và đường Võ Văn Ki t), có cạnh 2,11m

+ ướng t y: Đo từ mốc số 4 đến mốc số 5 (giáp kênh Đường Gạo), có cạnh là 0,22m.

+ ướng nam: Đo từ mốc số 4 đến mốc số 14 (giáp số 02 thửa 42), có cạnh là 11,76m.

+ ướng bắc: Đo từ mốc số 5 đến mốc số 13 (giáp đường giao th ng), có cạnh là 11,57m.

* Ô thứ 02, thuộc một phần thửa 42 có diện tích 61,4m2:

+ ướng đ ng: Đo từ mốc số 14 đến mốc số 15 (giáp v a hè và đường Võ Văn Ki t), có cạnh 5,42m

+ ướng t y: Đo từ mốc số 3 đến mốc số 4 (giáp kênh Đường Gạo), có cạnh là 4,65m.

+ ướng nam: Đo từ mốc số 3 đến mốc số 15 (giáp đất của ng Nguy n Văn X), có cạnh là 12,83m.

+ ướng bắc: Đo từ mốc số 4 đến mốc số 14 (giáp số 01 thửa 38), có cạnh là 11,76m.

Buộc ng Nguy n Văn Tr, bà Trần Th B, ng Nguy n Văn X và bà Nguy n Th H có nghĩa vụ liên đới di dời toàn bộ c y trồng, 01 (một) cái miểu và tài sản khác có trên đất để giao đất cho bà Đỗ Thúy L được quyền sử dụng như đã nêu trên.

(Theo s đồ hi n trạng và s đồ mốc ngày 13/12/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huy n TN và Biên bản xem xét, th m đ nh tại chỗ ngày 13/12/2018 của Tòa án nh n d n huy n TN).

Bà Đỗ Thúy L có trách nhi m đến c quan nhà nước có th m quyền làm thủ tục đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất đã được giao như nêu trên theo quy đ nh của pháp luật.

2.2. Kh ng chấp nhận yêu cầu phản tố của ng Nguy n Văn Tr đối với bà Đỗ Thúy L về vi c đòi lại số tiền 29.100.500đ ( ai mư i chín tri u, một trăm nghìn, năm trăm đồng).

2.3. Về án phí d n s s th m:

- ng Nguy n Văn Tr được mi n án phí d n s s th m, do ông Tr là người cao tuổi và có đ n xin mi n án phí.

- Bà Đỗ Thúy L kh ng phải ch u án phí d n s s th m, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí d n s s th m đã nộp là 187.500đ (Một trăm tám mư i bảy nghìn năm trăm đồng), theo biên lai thu số: BG/2015/0003663 ngày 06/7/2018 tại Chi cục Thi hành án d n s huy n TN, t nh ĐT.

2.4. Về chi phí tố tụng khác:

ng Nguy n Văn Tr và bà Trần Th B phải ch u chi phí xem xét, th m đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản là 8.142.000đ (Tám tri u, một trăm bốn mư i hai nghìn đồng). Do bà Đỗ Thúy L đã nộp tạm ứng xong, nên ng Tr và bà B có nghĩa vụ liên đới trả lại cho bà L số tiền này.

3. Về án phí d n s phúc th m:

ng Nguy n Văn Tr được mi n án phí d n s phúc th m.

Trong trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 uật Thi hành án d n s thì người được thi hành án d n s , người phải thi hành án d n s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguy n thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 uật Thi hành án d n s ; thời hi u thi hành án d n s được th c hi n theo quy đ nh tại Điều 30 uật thi hành án d n s .

Bản án phúc th m có hi u l c pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ