vanban.org

Bản án 177/2019/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 12/04/2019 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của người khởi kiện Công ty

Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Công ty cổ phần lương thực thẩm phẩm V kiện Cục thuế tỉnh Vĩnh Long"
  • Tòa quyết gì? I. Không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của người khởi kiện Công ty
  • Căn cứ chính? Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg Ban hành Hệ thống ngành kinh tế…; Điều 241 Bộ luật Tố tụng hành chính
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2019/HC-PT
Ngày: 12 - 4 - 2019
V/v “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi
phạm pháp luật về thuế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Phạm Thị Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Mười

Ông Nguyễn Đắc Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp

cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số:

487/2018/TLPT-HC ngày 17 tháng 9 năm 2018 về việc “Khiếu kiện quyết định xử

phạt vi phạm pháp luật về thuế”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2018/HC-ST ngày 26 tháng 7 năm

2018 của Tòa án nhân dân tỉnh tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 379/2019/QĐ - PT ngày

21 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Công ty Cổ phần Lương thực -Thực phẩm V

Địa chỉ trụ sở: Đường 2 tháng 9, Phường x, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Phan Ngọc B, chức vụ:

Kế toán trưởng (văn bản ủy quyền ngày 01/11/2017 của Tổng Giám đốc Công ty

Cổ phần Lương thực - Thực phẩm V) (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Bà Trương

Thị H, Luật sư Văn phòng luật sư Trương Thị H thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ

Chí Minh (có mặt)

- Người bị kiện:

1. Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long

2. Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long

Đị a chỉ: Khóm x, Phường Y, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của Cụ c trưở ng C ục Thuế tỉnh Vĩnh Long và Cụ c

Thuế tỉ nh Vĩ nh Long: Ông Đặng Văn D; chức vụ: Phó Cục trưở ng Cụ c Thu ế tỉnh Vĩnh Long (văn bản ủy quyền số 28/3/2018) (có mặt)

3. Tổng cụ c trưở ng Tổ ng cục Thuế

Địa chỉ: Đường T, Quận H, Thành phố Hà Nội (xin xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Tổ ng cụ c trưở ng T ổng cục

Thuế: Ông Thành Xuân L; chức vụ: Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế - Tổng Cục thuế.

- Người kháng cáo: Người khởi kiện Công ty cổ phần lương thực – thực

phẩm V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/8/2011 và quá trình giải quyết vụ án, người khởi

kiện Công ty Cổ phần Lương thực-Thực phẩm V (sau đây gọ i tắ t là Công ty ) do ông Phan Ngọc B đại diện trình bày:

Tại Quyết định s ố 213/QĐ-CT ngày 22/6/2010 của Cục trưởng Cục Thuế

tỉnh Vĩnh Long đã xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Thanh H1 là Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Lương thực - Thực phẩm V với hình thức phạt tiền 3.134.756.310 đồng. Biện pháp khắc phục hậu quả: Thu hồi số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2007, năm 2008 tổng cộng là 31.347.563.097 đồng. Lý do: Công ty đã xác đ ịnh miễn giảm sai quy định tiền thuế thu nhập doanh nghiệp căn cứ vào điểm 4 Phần H Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp. Xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.

Công ty có đơn khiế u nạ i Quy ết định số 213/QĐ-CT, Cục trưởng Cục Thuế

tỉnh Vĩnh Long ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 46/QĐ-CT ngày 28/01/2011 với nội dung: Công nhận một phần nội dung đơn khiếu nại đối với ông Nguyễn Thanh H1 – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Lương thực-Thực phẩm V. Không phạt 10% và phạt nộp chậm, giữ nguyên số thuế thu nhập doanh nghiệp truy thu năm 2007 và 2008 do xác định sai ưu đãi miễn giảm là 31.347.563.097 đồng.

Công ty tiếp tục khiếu nại, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế ban hành Quyết

định giải quyết khiếu nại số 979/QĐ-TCT ngày 13/7/2011 với nội dung không công nhận nội dung đơn khiếu nại của Công ty, giữ nguyên Quyết định giải quyết khiếu nại số 46/QĐ-CT ngày 28/01/2011 của Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long.

Công ty Cổ phần Lương thực -Thực phẩm V chuyển đổi từ doanh nghiệp

nhà nước thành công ty cổ phần từ ngày 01/8/2006, có hoạt động chế biến nông sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 36 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004

của Chính phủ, Quyết định số 2204/QĐ-BNN-ĐMDN ngày 01/8/2006 của Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khoản 3 Điều 56 Nghị định số

109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ, khoản 2 Điều 46 nghị định số

24/2007/NĐ-CP ngày 14/02/2007 của Chính phủ, điểm 40 đoạn VII Phần B và

điểm 1 mục (a) đoạn IV Phần E Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Nghị định số

108/2006/NĐ-CP ngày 22/6/2006 của Chính phủ thì Công ty Cổ phần Lương thực-

Thực phẩm V thuộc trường hợp miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2007,

năm 2008 và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho 2 năm tiếp

theo.

Tại Công văn số 1816/BNN-CB ngày 18/4/2012 của Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn ghi nhậ n: Hoạt động mua gạo lức, gạo đã qua xay xát để đánh

bóng rồi tiêu thụ trong nước và xuất khẩu thuộc hoạt động chế biến nông sản.

Việc Cục thuế tỉnh Vĩnh Long ban hành Quyết định 213/QĐ-CT ngày

22/6/2010 về việc xử phạt vi phạm pháp luật về thuế, Quyết định giải quyết khiếu

nại số 46/QĐ-CT ngày 28/01/2011 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long và

Quyết định giải quyết khiếu nại số 979/QĐ-TCT ngày 13/7/2011 của Tổng cục

trưởng Tổng cục Thuế là không phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Công

ty Cổ phần Lương thực-Thực phẩm V khởi kiện yêu cầu:

- Hủy một phần các quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại

và hủy một phần các thông báo tiền nợ và tiền phạt chậm nộp có liên quan; gồm:

+ Quyết định số 213/QĐ-CT ngày 22/6/2010 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh

Vĩnh Long về việc xử phạt vi phạm pháp luật về thuế;

+ Quyết định số 46/QĐ-CT ngày 28/01/2011 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh

Vĩnh Long về việc giải quyết đơn khiếu nại của Tổng giám đốc Công ty Cổ phần

Lương thực-Thực phẩm V;

Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long truy thu Công ty Cổ phần Lương thực-Thực phẩm

V số tiền 31.347.563.097 đồng và tiền phạt chậm nộp thuế 2.356.182.344 đồng.

Trong số tiền 31.347.563.097 đồng Công ty chỉ kiện 17.169.001.155 đồng và số

tiền phạt chậm nộp 848.145.474 đồng.

+ Quyết định số 979/QĐ-TCT ngày 13/7/2011 của Tổng cục trưởng Tổng

cục Thuế về việc giải quyết khiếu nại của Công ty Cổ phần Lương thực-Thực

phẩm V.

- Yêu cầu Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long hoàn trả cho Công ty Cổ phần Lương

thực -Thực phẩm V số tiền gồm: Tiền thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2007 và

năm 2008 tổ ng cộ ng 17.169.001.155 đồng (do đủ điều kiện ưu đãi thuế thu nhập

doanh nghiệp năm 2007 và năm 2008), tiền phạt chậm nộp thuế thu nhập doanh

nghiệp 848.145.474 đồng.

- Yêu cầu Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ

phần Lương thực -Thực phẩm V tiền lãi củ a số tiề n đã nộ p do bị truy thu thuế và

tiề n phạ t chậ m nộ p thuế thu nhậ p doanh nghiệ p 848.145.474 đồ ng, từ khi nộ p tính đến ngày xé t xử sơ thẩ m, lãi suất 9%/năm bằ ng 12.589.676.543 đồng.

Tại Công văn số 280/CT-TTr ngày 04/4/2012 và quá trình giải quyết vụ án,

người bị kiện Cụ c trưở ng Cụ c Thuế tỉ nh Vĩ nh Long và Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long do ông Đặng Văn D đại diện trình bày: Căn cứ biên bản xác minh ngày 19/5/2011 giữa Tổng cục Thuế với Công ty Cổ phần Lương thực -Thực phẩm V thì ho ạt động của Công ty (các xí nghiệp trực thuộc Công ty) thực hiện việc xay xát, đánh bóng gạo với nguyên liệu đầu vào là gạo lức (gạo đã bóc vỏ trấu) và gạo nguyên liệu trắng đã qua quy trình xay xát, đánh bóng, sản phẩm đầu ra là gạo thành phẩm để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Công ty Cổ phần Lương thực -Thực phẩm V thực hiện hoạt động kinh doanh lương thực chủ yếu như:

Mua và bán trực tiếp gạo đã thành phẩm (mua vào gạo 5%, 10%, 15%, 20%,

25% rồi bán ra cũng các loại gạo này).

Mua gạo lức về sơ chế (đánh bóng) để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Hoạt động đánh bóng gạo là hoạt động sơ chế thông thường vì nguyên liệu

đầu vào là gạo đã bóc vỏ trấu, không phải là hoạt động sản xuất.

Căn cứ Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 và Công văn số

4248/BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việ c ban hà nh Hệ thống ngà nh kinh tế của Việt Nam thì hoạt động của Công ty Cổ phần Lương thực-Thực phẩm V thuộc mã ngành 4631- 46310 bán buôn gạo, không thuộc ngành công nghiệp chế tạo, chế biến.

Căn cứ Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy

định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư xét về lĩnh vực ngành nghề cũng như địa bàn ưu đãi đầu tư thì Công ty Cổ phần Lương thực-Thực phẩm V không thuộc diện ưu đãi đầu tư. Do đó, Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long không đồng ý đố i vớ i yêu cầu khởi kiện của Công ty.

Tại Công văn số 615/TCT-PC ngày 22/02/2018 và quá trình giải quyết vụ án

Tổ ng cụ c trưở ng Tổng cục Thuế trình bày:

Căn cứ vào Hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam ban hành kèm theo

Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam thì chế biến gồm các hoạt động làm biến đổi về mặt vật lý, hóa học của vật liệu, chất liệu hoặc làm biến đổi các thành phần cấu thành của nó, để tạo ra sản phẩm mới. Hoạt động xay xát, đánh bóng gạo gắn liền với quá trình sản xuất gạo bằng cách tách vỏ trấu (nguyên liệu đầu vào là thóc, lúa), xay xát, đánh bóng gạo làm biến đổi từ thóc, lúa thành gạo được xác định là xay xát thuộc mã ngành 1061 nên thuộc nhóm chế biến chế tạo (chế biến nông sản). Còn hoạt động thu mua, phân loại, đánh bóng, đóng bao gạo gắn liền với bán buôn trong nước và xuất khẩu thuộc nhóm bán buôn gạo mã ngành 46310.

Thực tế Công ty Cổ phần Lương thực-Thực phẩm V mua gạo nguyên liệu

(gạo đã bóc trấu), gạo trắng về đánh bóng gạo với sản phẩm đầu ra là gạo trắng,

quá trình này không làm biến đổi về mặt vật lý, thành phần cấu trúc của gạo, không

tạo ra sản phẩm mới nên không thuộc hoạt động chế biến, mà thuộc mã ngành

46310 bán buôn gạo. Do đó, hoạt động đánh bóng gạo của Công ty Cổ phần Lương

thực -Thực phẩm V không thuộc ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư ban hành

kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP.

Vì ngành nghề kinh doanh của Công ty Cổ phần Lương thực-Thực phẩm V

không đáp ứng điều kiện ưu đãi theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005 và Nghị

định số 108/2006/NĐ-CP cho nên Công ty không được hưởng ưu đãi thuế thu nhậ p

doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động đánh bóng gạo.

Việc cơ quan thuế truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động

đánh bóng gạo của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V tại Quyết định số

213/QĐ-CT ngày 22/6/2010, Quyết định giải quyết khiếu nại số 46/QĐ-CT ngày

28/01/2011, Quyết định giải quyết khiếu nại số 979/QĐ-TCT ngày 13/7/2011 là

phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Tổng cục Thuế không đồng ý đố i vớ i

yêu cầ u khởi kiện củ a Công ty.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 10/2018/HC-ST ngày 26 tháng 7 năm

2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

- Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm

2015; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án, Điề u 34, Điề u 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tò a á n.

1. Bác yêu cầu khở i kiệ n của Công ty Cổ phầ n Lương thự c – Thự c phẩ m V

về việc hủy mộ t phầ n các quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại

và hủy một phần các thông báo tiền nợ và tiền phạt chậm nộp có liên quan; gồm:

Quyết định số 213/QĐ-CT ngày 22/6/2010 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Vĩnh

Long về việc xử phạt vi phạm pháp luật về thuế; Quyết định số 46/QĐ-CT ngày

28/01/2011 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long về việc giải quyết đơn khiếu

nại của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V; Quyết định số 979/QĐ-TCT

ngày 13/7/2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc giải quyết khiếu nại

của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V đố i vớ i số tiề n thuế thu nhậ p

doanh nghiệ p năm 2007, 2008 tổ ng cộ ng 17.169.001.155 đồng, tiền phạt chậm nộp

thuế 848.145.474 đồng và yêu cầ u hoà n trả cá c khoả n tiề n đã nộ p nà y.

2. Bác yêu cầu khởi kiện Công ty Cổ phầ n Lương thự c -Thự c phẩ m V về

việc đò i Cụ c Thuế tỉ nh Vĩ nh Long bồ i thườ ng thiệ t hạ i số tiề n

12.589.676.543

đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, thi hành án và thông báo

quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn kháng cáo người khởi kiện Công ty

Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xử chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện Công ty Cổ phần Lương thực-

Thực phẩm V không rút đơn kháng cáo và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm: Sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V. Ngoài ra, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện nêu một số vấn đề sau: Khi bản án sơ thẩm lần thứ nhất của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long bị hủy, Công ty Cổ phần Lương thực - Thực phẩm V đã rút lại một phần yêu khởi kiện mà Công ty cho rằng phần thuế đó thuộc hoạt động buôn bán. Tại Tòa án cấp sơ thẩm lần thứ hai, Công ty Cổ phần Lương thực - Thực phẩm V xác định toàn bộ hoạt động loại bỏ vỏ lụa của gạo và đánh bóng gạo là thuộc lĩnh vực hoạt động sản xuất nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty ông hủy một phần quyết định bị kiện đã nêu trong đơn khởi kiện.

Tại phần tranh luận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi

kiện – luật sư Trương Thị H xác định: Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V là thuộc đối tượng được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất. Do vậy bản chất của vấn đề hai bên còn tranh cãi là việc xác định hoạt động loại bỏ vỏ lụa gạo lứt, đánh bóng gạo của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V là hoạt động kinh doanh mua bán hay hoạt động sản xuất. Từ việc xác định này sẽ đưa đến kết quả chấp nhận đơn khởi kiện hay bác đơn khởi của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V. Luật sư Trương Thị H cho rằng; căn cứ Công văn số 1816/BNN-CB ngày 18/4/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ghi nhậ n: Hoạt động mua gạo lức, gạo đã qua xay xát để đánh bóng rồi tiêu thụ trong nước và xuất khẩu thuộc hoạt động sản xuât chế biến nông sản. Bên cạnh đó cũng có một số văn bản khác cũng xác định hoạt động trên của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V là hoạt động sản xuất. Hơn nữa thực tế Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V đã đầu tư 6 nhà máy để thực hiện việc xay xát đánh bóng gạo nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ chứng cứ đã trình bày của luật sư để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V.

Phía những người bị kiện, do người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và đại

diện ủy quyền trình bày tranh luận: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V; đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chứng cứ chứng minh hoạt động đánh bóng gạo của Công ty Cổ phần Lương thực - Thực phẩm V là hoạt động mua bán gạo không phải là hoạt động sản xuất gồm các văn bản 1160/BNN-ĐMDN ngày 08/4/2013; văn bản 2567/BKHDT-ĐKKD ngày 23/4/2013. Ngoài ra, những người bị kiện còn cho rằng chứng cứ chứng minh cho việc có hoạt động sản xuất hay không, còn được biểu hiện ở chỗ sản phẩm đầu vào trước khi đưa vào sản xuất phải khác với sản phẩm sau khi đã sản xuất. Trường hợp Công ty Cổ phần Lương thực - Thực phẩm V cho rằng việc

đánh bóng gạo là hoạt động sản xuất là hoàn toàn không đúng, bởi sản phẩm đầu

vào và sản phẩm đầu ra sau khi sản xuất đều là gạo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nêu

quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã tiến hành đúng theo

qui định của luật tố tụng hiện hành, không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hơp

pháp của các đương sự. Xét về nội dung vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các

chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng để phán xử không chấp nhận

yêu cầu khởi kiện của người bị kiện là có căn cứ đúng pháp luật. Do vậy đề nghị

Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực

phẩm V giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện,

quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án, việc xác định tư

cách tham gia tố tụng của đương sự được thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng

hành chính.

Về nhận định, đánh giá chứng cứ và phán quyết của bản án sơ thẩm:

Căn cứ yêu cầu trình bày của các đương sự và các chứng cứ thu thập

trong quá trình tiến hành tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện nội dung khởi

kiện của: Công ty Cổ phầ n Lương thự c – Thự c phẩ m V yêu cầ u hủy một phần các

quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại và hủy một phần các thông

báo tiền nợ và tiền phạt chậm nộp có liên quan; gồm: Quyết định số 213/QĐ-CT

ngày 22/6/2010 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long; Quyết định số 46/QĐ-

CT ngày 28/01/2011 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long về việ c giả i quyế t

đơn khiế u nạ i ; Quyết định số 979/QĐ-TCT ngày 13/7/2011 của Tổng cục trưởng

Tổng cục Thuế về việc giải quyết khiếu nại. Trong số tiề n 31.347.563.097 đồ ng và

tiề n phạ t chậ m nộ p thuế 2.356.182.344 đồ ng theo cá c quyế t đị nh và thông bá o nó i

trên, Công ty chỉ kiệ n yêu cầ u hủ y mộ t phầ n đố

i vớ i khoả n tiề n truy thu

17.169.001.155 đồ ng và tiề n phạ t chậ m nộ p 848.145.474 đồ ng. Phầ n cò n lạ i Công

ty đồ ng ý .

Các chứng cứ thu thập trong quá trình giả quyết vụ án thể hiện các nội

dung: Công ty Cổ phầ n Lương thự c – Thự c phẩ m V đượ c thà nh lậ p theo Quyế t

đị nh số 2204/QĐ-BNN-ĐMDN ngà y 01/8/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn, trên cơ sở chuyể n Do anh nghiệ p Nhà nướ c Công ty Lương thự c Thự c

phẩ m V thành công ty cổ phần theo q uy đị nh tạ i Nghị đị nh 187/20004/NĐ-CP

ngày 16/11/2004 của Chính phủ. Theo giấ y phé p kinh doanh số 503000041 của Sở

Kế hoạ ch và Đầ u tư tỉ nh Vĩ nh Long cấ p cho Công ty ngà y 29/12/2006 trong 24

ngành nghề có 02 ngành nghề số 22, 23 là ngành sản xuất , chế biế n: Xay xá t lú a,

đá nh bó ng gạ o , sản xuất bột thô , sản xuất các loại bánh từ bột . Tại Công văn số

6916/BKHĐT-ĐKKD ngà y 10/9/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ghi : “Xay xát thóc lúa , đá nh bó ng gạ o đượ c xế p và o mã số 10611 xay xá t, hoạt động này thuộ c nhó m ngà nh cấ p 2 là sản xuất chế biến thực phẩm ”. Tại Công văn số 4284/BKHĐT ngà y 13/6/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị căn cứ vào hoạt độ ng sả n suấ t kinh doan h thự c tế củ a công ty để xem xé t á p dụ ng ưu đã i đầ u tư . Theo Công văn số 1816/BNN-CB ngà y 18/4/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triể n nông thôn có nêu rõ : “Hoạt động mua gạo lức , gạo đã qua xay xát để đánh bóng rồi tiêu thụ tr ong nướ c và xuấ t khẩ u thuộ c hoạ t độ ng chế biế n nông sả n ”. Công văn số 39/ĐKKD ngà y 19/3/2012 của Sở kế hoạch Đầu tư tỉnh Vĩnh Long căn cứ quy đị nh tạ i Quyế t đị nh số 10/2007/QĐ-TTg củ a Thủ tướ ng Chí nh phủ thì ngành nghề kinh doanh xay xá t thó c lú a, đá nh bó ng gạ o (mã số cấp 4: 1061) thuộ c ngành nghề sản xuất chế biến thực phẩm (mã số cấp 1: 10).

Ngày 19/02/2013 Bộ Tà i chí nh có Công văn số 2244/BTC-TCT về việ c xá c

đị nh ưu đã i thuế thu nhậ p doan h nghiệ p củ a Công ty Cổ phầ n Lương thự c – Thự c phẩ m V, đồ ng thờ i gử i Bộ Nông nghiệ p và Phá t triể n nông thôn và Bộ Kế hoạ ch và Đầu tư có ý kiến xác định rõ hoạt động đánh bóng gạo của Công ty Cổ phầ n Lương thự c – Thự c phẩ m V thuộ c ngà nh nghề theo lã nh vự c nà o theo Quyế t đị nh số 10/2007/QĐ-TTg ngà y 23/01/2007 và Quyết định 337/QĐ-BKH ngà y 10/4/2007 để Tòa án căn cứ xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của Công ty Cổ phầ n Lương thự c – Thự c phẩ m V theo đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t.

Ngày 08/4/2013, Bộ Nông nghiệ p và Phá t triể n Nông thôn có Công văn số

1160/BNN-ĐMDN xác định theo Quyết định số

10/2007/QĐ-TTg ngà y 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ không quy định hoạt động đánh bóng gạo , tuy nhiên tạ i Quyế t đị nh số 337/QĐ-BKH ngà y 10/4/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có quy định : Hoạt động thu mua , phân loạ i, đá nh bó ng, đó ng bao gạ o gắ n liề n vớ i bá n buôn trong nướ c và xuấ t khẩ u thuộ c danh mụ c bá n buôn gạ o

, mã ngạch 4631-46310.

Ngày 23/4/2013, Bộ Kế hoạ ch và Đầ u tư có Công văn số

2567/BKHĐT-ĐKKD gử i Bộ Tà i chí nh có nộ i dung : Căn cứ Hệ thố ng ngà nh kinh tế Việ t Nam VSIC 2007 ban hà nh theo Quyế t đị nh số 10/2007/QĐ-TTg ngà y 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 337/QĐ-BKH ngà y 10/4/2007 của Bộ trưở ng Bộ Kế hoạ ch và Đầ u tư về việ c ban hà nh quy đị nh nộ i dung Hệ thố ng ngành kinh tế Việt Nam ; căn cứ nguyên tắ c sắ p xế p hoạ t độ ng và o ngà nh kinh tế thuộ c VSIC 2007 thì hoạt động đánh bóng gạo nếu không gắ n liề n vớ i hoạ t độ ng bán buôn trong nước và xuất khẩu xếp vào mã 46310: Bán buôn gạo.

Bản án sơ thẩm đánh giá các chứng cứ và nhận định:

- Trong quá trì nh sả n xuấ t kinh doanh mã ngà nh nghề đăng ký kinh doanh

trong Giấ y chứ ng nhậ n đăng ký kinh doanh củ a doanh nghiệ p không phả n á nh đầ y đủ cá c hoạ t độ ng đa dạ ng củ a doanh nghiệ p , đồ ng thờ i không phả i là căn cứ duy nhấ t để xá c đị nh nghĩ a vụ thuế củ a doanh nghiệ p vì vậ y phả i căn cứ và o tì nh hì nh thự c tế hoạ t độ ng sả n xuấ t kinh doanh củ a Công ty để xem xé t á p dụ ng ưu đã i đầ u tư. Quá trình thu thập chứng cứ Công ty thừ a nhậ n năm 2007, 2008 Công ty và cá c

chi nhá nh thà nh viên chỉ có hoạ t độ ng đá nh bó ng gạ o vớ i nguyên liệ u đầ u và o là

gạo lức (gạo đã bóc trấu) và gạo trắng (thuế giá trị gia tăng hà ng hó a đầ u và o Công

ty kê khai vớ i thuế suấ t thuế giá trị gia tăng 5%) về đá nh bó ng để bá n thì không

thuộ c ngà nh nghề sả n xuấ t , chế biế n mà hoạ t độ ng đá nh bó ng gạ o nà y thuộ c mã

ngành: Bán buôn gạo là hoạt động thương mại nên không thuộc ngành nghề chế

biế n nông sả n thự c phẩ m theo điể m 40, mục VII, phầ n B, phụ lục I Danh mục lĩnh

vự c ưu đã i đầ u tư ban hà nh kè m theo Nghị đị nh 108/2006/NĐ-CP ngà y 22/9/2006

của Chính phủ cho nên không đượ c hưở ng thuế thu nhậ p doanh nghiệ p theo Thông

tư số 134/2007/TT-BTC ngà y 23/11/2007 của Bộ Tài chính . Vì vậy yêu cầu khởi

kiệ n củ a Công ty về việ c hủ y mộ t phầ n cá c quyế t đị nh hà nh chí nh về thuế nó i trên

và yêu cầu hoàn trả phần tiền thuế đã nộp năm 2007 và năm 2008 tổ ng cộ ng bằ ng

17.169.001.155 đồng, tiền phạt chậm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là

848.145.474 đồng là không có căn cứ chấ p nhậ n. Ngoài ra thì án sơ thẩm còn nhận

định: do yêu cầ u khở i kiệ n củ a Công ty về việ c hủ y mộ t phầ n cá c qu yế t đị nh hà nh

chính về thuế nói trên không có cơ sở chấp nhận nên việ c Công ty yêu cầ u Cụ c

Thuế bồ i thườ ng thiệ t hạ i đố i vớ i số tiề n nó i trên là không có cơ sở chấ p nhậ n.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét

đầy đủ các chứng cứ và làm rõ những tình tiết trong vụ án đã, nhận định và phán

quyết đúng qui định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm Công ty Cổ phần Lương

thực- Thực phẩm V kháng cáo nhưng không đưa ra chứng cứ nào mới chứng minh

cho yêu cầu khởi kiện của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp

nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ

Chí Minh, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của Công ty Cổ phần Lương

thực- Thực phẩm V, giữ nguyên án sơ thẩm.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Công ty Cổ phần Lương thực- Thực

phẩm V phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Bộ luật Tố tụng hành chính năm 2015;

I. Không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của người khởi kiện Công ty

Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V. Giữ nguyên bản án sơ thẩm:

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực

phẩm V về việc yêu cầu hủy mộ t phầ n các quyết định hành chính, quyết định giải

quyết khiếu nại và hủy một phần các thông báo tiền nợ và tiền phạt chậm nộp có

liên quan; gồm: Quyết định số 213/QĐ-CT ngày 22/6/2010 của Cục trưởng Cục

Thuế tỉnh Vĩnh Long về việc xử phạt vi phạm pháp luật về thuế; Quyết định số

46/QĐ-CT ngày 28/01/2011 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long về việc giải

quyết đơn khiếu nại của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V; Quyết định

số 979/QĐ-TCT ngày 13/7/2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế về việc giải

quyết khiếu nại của Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V đố i vớ i số tiề n thuế thu nhậ p doanh nghiệ p năm 2007, 2008 tổ ng cộ ng 17.169.001.155 đồng, tiền phạt chậm nộp thuế 848.145.474 đồng và yêu cầ u hoà n trả cá c khoả n tiề n đã nộ p này.

2. Không chấp nhận yêu cầ u khở i kiệ n Công ty Cổ phầ n Lương thự c -Thự c

phẩ m V về việc đò i Cụ c Thuế tỉ nh Vĩ nh Long bồ i thườ ng thiệ t hạ i số tiề n 12.589.676.543 đồng.

3. Án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phầ n Lương thự c – Thự c phẩ m V phải chịu

200.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm và 120.589.600 đồ ng á n phí dân sự sơ thẩ m. Công ty Cổ phầ n Lương thự c-Thự c phẩ m V đã nộ p số tiền 60.098.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 2918 ngày 22/02/2012 và biên lai thu số 968 ngày 30/5/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long được khấu trừ, còn phải nộp 60.691.600 đồ ng.

II. Án phí hành chính phúc thẩm: Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm

V phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ theo biên lai thu số 0001041 ngày 08/8/2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Công ty Cổ phần Lương thực- Thực phẩm V không phải nộp thêm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ