- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 177/2018/HS-PT Ngày 30/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tùng.
Các Thẩm phán: Ông Doãn Đình Quyến.
Bà Trần Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2018/TLPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Lê Văn H về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2018/HSST ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: LÊ VĂN H, sinh năm 1992 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn M, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Lê Văn L, sinh năm 1960 và con bà Ngô Thị T, sinh năm 1966; có vợ Lê Thị T, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2016;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10/10/2017, đến ngày 22/11/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 21/6/2017, bà Ngô Thị T và Lê Văn H đi xuống ruộng lúa nước của gia đình tại thôn B, xã E, huyện K để lấp mương nước. Khi đi bà T đi bộ và cầm cuốc, còn H điều khiển xe máy múc. Đến ruộng của bà T, bà T dùng cuốc lấp mương nước. Lúc đang cuốc thì bà Phạm Thị G1 đi đến và nói bà T đừng lấp mương nhưng bà T vẫn cuốc và nói “Đất của tôi, tôi cuốc”. Bà G1 liền gọi điện thoại báo cho ông Đặng Văn G biết việc bà T đang lấp mương nước. Ông G liền đi xuống nơi bà T cuốc đất rồi xô bà T ngã xuống mương nước rất sâu, bà T được bà T1 và ông V kéo lên bờ; bà T và ông G cãi nhau một lúc sau đó đi về. Lê Văn H thấy ông G xô bà T (Là mẹ của H) xuống mương mước nên dừng máy múc và đi về nhà lấy 02 con dao dài khoảng 35cm, cán gỗ, mũi nhọn rồi đi xuống ruộng. Ông G sau khi cãi nhau với bà T thì đi về nhà, một lúc sau ông G đi xuống hồ để kéo ngọn tre thì thấy H cùng đi xuống. Khi ông G và H gặp nhau tại đoạn đường gần giữa hồ thì H hỏi ông G “Lúc nãy ông làm gì mẹ tôi?”, ông G trả lời “Lúc nãy mẹ mày phá mương nước của tao thì tao đẩy mẹ mày xuống không cho phá”. H nói tiếp “Ông thích đánh nhau à?”, ông G nói “Mày tuổi gì mà dám đánh tao?”. Lúc này H hai tay rút hai con dao sau lưng ra chém liên tiếp vào mặt, tay ông G, một nhát trúng cằm, một nhát trúng 1/3 phía trên bên trong cánh tay trái, 01 nhát trúng cẳng tay trái làm ông G bị thương. Ông G bỏ chạy thì H đuổi theo nhưng được ông Lê Văn V can ngăn nên H bỏ đi. Ông V đưa ông G đến Bệnh viện 333 cấp cứu và điều trị.
Vật chứng thu giữ: 01 con dao dài 35cm, cán dao bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao được làm bằng kim loại dài 25cm, bề rộng nhất của lưỡi dao 8cm; 01 con dao dài 35cm, cán dao bằng gỗ dài 10cm, lưỡi dao được làm bằng kim loại dài 25cm, bề rộng nhất của lưỡi dao 6cm.
Tại Bản kết luận pháp y thương tích số: 1023/PY-TgT ngày 17/8/2017 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Ông Đặng Văn G bị đa thương, tổn thương cơ nhị đầu và cơ cổ tay trụ, tỷ lệ thương tích 18%, vật tác động sắc bén.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12/2018/HSST ngày 30/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 ( khoản 2 Điều 134, điểm b, s Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 10/10/2017 đến ngày 22/11/2017).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/02/2018, bị cáo Lê Văn H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như diễn biến của vụ án và nội dung của bản án sơ thẩm.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả gây ra đối với hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn H và cho rằng Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999; (khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015) là có căn cứ. Xét mức hình phạt 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị cáo H có cung cấp thêm hai tình tiết giảm nhẹ mới là gia đình bị cáo có công với cách mạng. Ông nội là thương binh chống pháp, bố là quân nhân bảo vệ nước bạn Căm Pu Chia nay đã tại ngũ. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền tổn thất tinh thần cho người bị hại thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Đề nghị HĐXX phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 BLTTHS sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo Lê Văn H tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 21/6/2017, tại thôn M, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, do bà T lấp mương nước của bà T, nhưng ông Đặng Văn G không đồng ý. Nên ông G đã xô đẩy bà Ngô Thị T (mẹ bị cáo H) xuống mương nước sâu khoảng 2,5m, lòng mương rộng 3m, do đó bị cáo Lê Văn H đã dùng 02 con dao chém ông Đặng Văn G gây thương tích 18%.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án nhân dân huyện Ea Kar xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt 02 năm tù mà bản án sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng các tình tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí thuốc điều trị và thu nhập bị mất trong thời gian nằm viện. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ như bố bị cáo đã từng quân nhân bảo vệ Tổ quốc nước bạn Căm Pu Chia, ông nội của bị cáo là thương binh chống pháp tỷ lệ 4/4. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo bồi thường hết số tiền tổn thất tinh thần cho người bị hại thể hiện tính ăn năn hối cải của bị cáo, nên cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Do vậy, từ những phân tích trên Hội đồng xét xử phúc thẩm nên chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm số: 12/2018/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar về phần hình phạt.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Đối với ông Đặng Văn G có đơn đề nghị Tòa án xem xét đơn kháng cáo của bị cáo H, xét thấy đơn kháng cáo của ông G viết ngày 08/3/2018 quá thời hạn kháng cáo. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2018/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 02 (Hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 04 (bốn) năm. Thời hạn thụ hình tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn H về cho UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; là nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
[3] Về án phí: Bị cáo Lê Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - Tòa án cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02bản); - Phòng HSNVCA tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Ea Kar; - VKSND huyện Ea Kar; - Công an huyện Ea Kar; - Chi Cục THA DS huyện K; - Bị cáo, người bị hại; - Lưu hồ sơ; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tùng |