- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận y u cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn bà Ph Thi n Hoàng L1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan ng Trương Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 177/2018/DS-ST Ngày: 21-11-2018 V/v tranh chấp “Hợp đồng hụi và hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N N HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hồng
Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Kh ng tham gia phi n tòa.
Ngày 21 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án dân sự thụ lý số: 353/2018/TLST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2018 về việc tranh chấp “Hợp đồng hụi và hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2018/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959; (có mặt).
Cư trú: Số nhà 49, ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Bà Ph Thi n Hoàng L1, sinh năm 1978; (có mặt).
Cư trú: Ấp T1, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Thanh T, sinh năm 1975; (vắng mặt).
Cư trú: Ấp T1, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI UNG VỤ N:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguy n đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Về số tiền hụi: Bà có tham gia hụi do bà L1 làm chủ, cụ thể như sau:
Dây hụi 5.000.000/tháng mở ngày 24/01/2016 âm lịch, có 25 hụi vi n, bà tham gia 04 phần. Sau đó, bà lĩnh hụi 01 phần và giữa bà với bà L1 cấn trừ qua lại 02 phần n n bà còn tham gia 02 phần hụi sống và bà góp được 14 lần đến 24/02/2017 âm lịch, tổng cộng số tiền hụi mà bà L1 nợ bà 02 phần hụi này là 140.000.000 đồng.
Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, mở ngày 24/3/2016 dương lịch, có 30 hụi vi n, bà tham gia 02 phần. Dây hụi này bà đã góp được 13 lần, tổng cộng số tiền hụi bà L1 nợ bà của dây hụi này là 78.000.000 đồng.
Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/11/2016 âm lịch, bà kh ng biết có bao nhi u hụi vi n, bà tham gia bao nhi u phần bà cũng kh ng nhớ vì bà L1 kh ng đưa danh sách hụi cho bà, bà chỉ nhớ bà góp được 04 lần n n tổng số tiền hụi bà L1 nợ bà của dây hụi này là 12.000.000 đồng.
Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở ngày 20/11/2016 âm lịch, bà kh ng biết có bao nhi u hụi vi n, bà tham gia bao nhi u phần bà cũng kh ng nhớ vì bà L1 không đưa danh sách hụi cho bà, bà chỉ nhớ bà góp được 04 lần n n tổng số tiền hụi bà L1 nợ bà của dây hụi này là 8.000.0000 đồng.
Tổng cộng số tiền hụi bà L1 nợ bà 238.000.000 đồng (tính lu n tiền lãi hụi mỗi tháng, số tiền lãi hụi mỗi tháng bao nhi u bà khống nhớ vì bà kh ng lập sổ theo dõi). Sau đó, giữa bà với bà L1 có cấn trừ số tiền của hai dây hụi khác là 33.000.000 đồng để kết thúc hai dây hụi khác này. Dó đó, tổng số tiền hụi bà L1 còn nợ bà là 205.000.000 đồng.
Về số tiền vay:
Bà có vay tiềm giùm bà L1 nhiều lần vào năm 2016 và 2017. Bà vay từ nhiều người sau đó bà đưa lại cho bà L1. Tổng số tiền bà đã vay gi m bà L1 là 1.147.000.000 đồng. Khi vay thỏa thuận lãi suất 3%/tháng, bà L1 có đóng lãi hàng tháng đóng đến tháng 01/2017 thì ngưng. Bà nhận lãi từ bà L1 sau đó bà đưa số tiền lãi này lại cho người mà bà vay gi m bà L1. Số tiền lãi bà L1 đã đóng bao nhi u thì bà kh ng nhớ rõ. Sau đó, bà L1 có trả dần cho bà được 28.000.000 đồng, trả th m mỗi tháng 450.000 đồng, trả được 13 tháng với số tiền 5.850.000 đồng. Đến sau này, bà L1 có trả dần cho bà được 5.990.000 đồng. Do đó, tổng số tiền bà L1 đã trả cho bà là 39.840.000 đồng. Vì vậy, hiện nay bà L1 còn nợ bà 1.107.160.000 đồng. Bà đứng ra vay gi m bà L1 nên bà L1 có trách nhiệm trả cho bà còn việc bà vay tiền của ai để bà đưa bà L1 thì bà sẽ có trách nhiệm với người đó.
Mặc d , bà L1 là người vay tiền và chủ hụi, nhưng do ng T và bà L1 là vợ chồng. Vì vậy, bà y u cầu bà L1 c ng với ng T có trách nhiệm li n đới trả bà số tiền nợ hụi và vay tổng cộng 1.312.160.000 đồng (tiền nợ hụi 205.000.000 đồng, tiền vay 1.107.160.000 đồng). Bà xin rút lại 01 phần y u cầu khởi kiển đối với số tiền 39.840.000 đồng so với y u cầu khởi kiện ban đầu trong đơn khởi kiện.
Khi vỡ nợ, ng T có đưa giấy đất cho bà giữ nhưng sau đó ng T có yêu cầu bà đưa lại để ng T bán đất trở nợ cho bà nhưng khi bán được đất ng T chỉ trả bà được 10.000.000 đồng.
Đối với y u cầu trả dần của bà L1 bà kh ng đồng ý. Bà y u cầu bà L1 trả một lần hết số nợ để bà về trả lại cho các chủ nợ mà bà đã đứng ra vay gi m bà L1. Do bà L1 thiếu bà quá nhiều tiền n n bà bị mất ngủ li n tục làm ảnh hưởng đến tinh thần của bà.
Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phù Thiên Hoàng L1 trình bày:
Giữa bà với bà L có tham gia giao dịch hụi như bà L trình bày. Đồng thời, bà cũng có nhờ bà L vay tiền gi m bà nhiều lần. Về sau, giữa bà với bà L có tổng kết lại số tiền hụi và vay, bà nợ bà L tổng cộng 1.357.000.000 đồng. Khi vay có thỏa thuận lãi suất 3%-4%/tháng, bà có trả lãi một thời gian thì ngưng trả. Đối với số tiền lãi đã trả bà kh ng có ý kiền gì vì bà vay tiền bà có thỏa thuận lãi suất n n bà có trách nhiệm trả lãi. Sau đó, bà có trả cho bà L nhiều lần được tổng số tiền 98.000.000 đồng nhưng việc bà trả tiền cho bà L bà không có làm bi n nhận n n bà kh ng có gì chứng minh. Bà đồng ý trả bà L số tiền 1.312.160.000 đồng nhưng hi n tại hoàn cảnh bà khó khăn bà xin được trả dần mỗi tháng 700.000 đồng đến khi hết số nợ.
Hiện tại, bà và ng T vẫn là vợ chồng và có đăng ký kết h n theo quy định của pháp luật. Do vợ chồng bà chỉ là giáo vi n và còn nu i dưỡng mẹ già và hai con, lương hàng tháng của hai vợ chồng kh ng đủ chi ti u sinh hoạt trong gia đình n n bà làm th m chủ hụi và vay th m tiền b n ngoài để đủ chi ti u trong sinh hoạt hằng ngày. Vì bà vay nhiều và lâu dần bà mất khả năng trả nợ n n đẫn đến vỡ nợ.
Do bà là người đứng ra vay tiền và giao dịch hụi kh ng li n quan đến chồng bà n n chồng bà kh ng có mặt theo các Th ng báo của Tòa án. Trước đây, khi bà vỡ nợ, chồng bà cũng đã đồng ý bán đất và tìm cách trả nợ giúp bà. Hiện nay, ng T vẫn sinh sống c ng bà ở ấp Thị 1, xã Hội An.
Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án n n kh ng tiến hành được phi n h p về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, c ng khai chứng cứ và hòa giải
Tại phi n tòa,
Bà L giữ nguy n y u cầu khởi kiện, kh ng đồng ý cách trả dần của bị đơn.
Bà L1 cho rằng chỉ nợ bà L tiền vay 630.000.000 đồng nhưng bà kh ng có chứng cứ chứng minh đối với số tiền vay còn nợ; hiện tại, hoàn cảnh kinh tế gia đình đang gặp khó khăn kh ng có khả năng trả một lần; bà xin được trả dần mỗi tháng 700.000 đồng đến khi hết số nợ; việc vay tiền và giao dịch hụi chỉ do một mình bà thực hiện, kh ng li n quan đến chồng bà n n ng T không có trách nhiệm gì đối với số nợ này
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phi n tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bà L khởi kiện tranh chấp hợp đồng hụi và hợp đồng vay tài sản với bị đơn có nơi cư trú ấp T1, xã H huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Ông T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt n n Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Giữa bà L với bà L1 có xác lập hợp đồng hụi và hợp đồng vay tài sản. Việc xác lập giao dịch này được các b n thừa nhận, xác lập tr n cơ sở tự nguyện, kh ng vi phạm điều cấm của luật và kh ng trái đạo đức xã hội n n hợp đồng hợp pháp.
Bà L1 thừa nhận có nợ bà L tiền hụi 205.000.000 đồng, Xét thấy, bà L1 làm chủ hụi, bà L là thành vi n. Mỗi tháng, bà L đã góp đầy đủ tiền hụi cho bà L1, bà L đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của thành vi n tham gia hụi. Mặc d , tuy chưa đến thời điểm kết thúc hụi nhưng bà L1 tuy n bố vỡ hụi và kh ng tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ hụi như đã thỏa thuận ban đầu là vi phạm. Do đó, bà L cầu bà L1 trả số tiền hụi là ph hợp Điều 280, 471 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ.
Đối với hợp đồng vay tài sản, bà L1 thừa nhận còn nợ bà L tiền vay 1.107.160.000 đồng và đến nay bà vẫn chưa trả được nợ cho bà L. Mặc d , tại phi n tòa bà chỉ thừa nhận còn nợ bà L số tiền vay 630.000.000 đồng nhưng bà kh ng có chứng cứ chứng mình đối với số tiền còn nợ n n Hội đồng xét xử kh ng có cơ sở xem xét. Do đó, bà L y u cầu bà L1 có nghĩa vụ trả số tiền vay 1.107.160.000 đồng là có cơ sở. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc bà L1 có trách nhiệm trả cho bà L số tiền vay 1.107.160.000 đồng là ph hợp Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bà L xin rút lại y u cầu khởi kiện đối với số tiền 39.840.000 đồng do bà L1 đã trả dần cho bà. Đây là tự nguy n của đương sự kh ng vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, xét chấp nhận.
Trách nhiệm li n đới: Bà L y u cầu ng T có trách nhiệm li n đới c ng bà L1 trả nợ cho bà. Xét thấy, tuy ông T không tham gia giao dịch hụi và vay tài sản với bà L nhưng từ khi Tòa án đã tống đạt hợp lệ Th ng báo thụ lý vụ án cho ng đến nay, ng kh ng có ý kiến phản đối đối với y u cầu khởi kiện của nguy n đơn. B n cạnh đó, giao dịch dân sự phát sinh trong thời k h n nhân và phục vụ các nhu cầu thiết yếu của gia đình và khi bà L1 bị vỡ nợ ng cũng đã tìm m i cách trả nợ giúp vợ ng. Vì vậy, ng phải có trách nhiệm li n đới c ng với bà L1 trả nợ trong phạm vi nghĩa vụ của mình là ph hợp Điều 288 Bộ luật dân sự và Điều 27 Luật H n nhân và gia đình.
Về lãi suất: Nguy n đơn kh ng y u cầu tính lãi và bà L1 không có tranh chấp đối với tiền lãi đã trả đối với số tiền vay n n kh ng xét đến.
Bà L1 xin được trả dần mỗi tháng 700.000 đồng đến khi hết số nợ nhưng nguy n đơn kh ng đồng ý n n Hội đồng xét xử kh ng có cơ sở để xem xét.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà L1, ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Các Điều 26, 35, 39, 92, 144, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 280, 288, 471, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 27 Luật h n nhân và gia đình;
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận y u cầu khởi kiện của nguy n đơn bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn bà Ph Thi n Hoàng L1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan ng Trương Thanh T.
Buộc bà Ph Thi n Hoàng L1 và ng Trương Thanh T có trách nhiệm li n đới trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền vay 1.107.160.000 (một tỷ một trăm lẻ bảy triệu một trăm sáu mươi nghìn) đồng và tiền hụi 205.000.000 (hai trăm lẻ năm triệu) đồng; tổng cộng 1.312.160.000 (một tỷ ba trăm mười hai triệu một trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phù Thiên Hoàng L1 và ng Trương Thanh T có trách nhiệm li n đới chịu án phí dân sự sơ thẩm 51.365.000 (năm mươi một triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng.
Bà Nguyễn Thị L kh ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 26.280.000 đồng (hai mươi sáu triệu hai trăm tám mươi nghìn) đồng theo bi n lai thu tiền số 0000069 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 21 tháng 8 năm 2018.
Kể từ ngày b n được thi hành có đơn y u cầu thi hành án, nếu b n phải thi hành án kh ng thanh toán số tiền tr n cho b n được thi hành án thì hàng tháng b n phải thi hành án còn phải trả cho b n được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Bà L, bà L1 có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Ông T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM HỘI Đ NG X T X
TH M
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THA dân sự Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu./. | TH M PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |