- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Lê Quang T và gi nguyên Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật ình sự; Điều 104 Bộ luật ình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 177/2017/HSPT Ngày 11/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Mạnh
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Cảnh
Ông Võ Đình Thắng
- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Công Quốc – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.
Ngày 11/9/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 144/2017/HSPT ngày 10/8/2017 đối với bị cáo Lê Quang T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2017/HSST ngày 05/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo kháng cáo: Lê Quang T, sinh năm 1971; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: K158/85 đường T, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Xây dựng; Con ông Lê Quang A (chết) và bà Phan Thị V; Tiền án; Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quang T và chị ê Thị V là hàng xóm với nhau. Trong sinh hoạt h ng ngày gi a chị V và T có xảy ra mâu thu n. Khoảng 21 giờ ngày 16/8/2016, Lê Quang T đến quán nước của chị V bên cạnh số nhà 439 đường N, thành phố Đà Nẵng gây sự với chị V và d a s quay lại. úc này, có con gái chị V là Tr n Thị N và bạn trai của N là Nguy n T n B đang ng i tại quán ch ng kiến sự việc trên nên Bảo g i điện cho nhóm bạn g m: V Đình T, Đặng Ng c nh H, u nh Văn Q, Nguy n Phước và Phan ia H đến quán bà V để ăn uống, đề phòng việc T quay lại gây sự. Khoảng 23 giờ 15 phút c ng ngày, T quay lại quán chị V gây sự thì bị B d ng ghế nhựa, V Đình T, H, Q, H và H d ng tay chân đánh T và con trai của T là ê Quang . au khi được m i người can ngăn, nhóm của B đi về, T và c ng về nhà.
Đến khoảng 23 giờ 45 phút c ng ngày, T quay lại quán chị V. Tại đây, T c ng với H d ng tay, chân lao vào đ m đá liên tiếp vào người của chị V và N. úc này, bà ngoại của N là ê Thị ra can ngăn, khi T và đánh N, do bà c m tay N nên bị ng theo. H tiếp tục d ng v chai bia đánh trúng vào đ u N, T d ng tay đánh vào người N. úc này, được m i người can ngăn nên T và b về nhà.
ậu quả: chị Tr n Thị N bị thương tích 3%; Bà ê Thị V bị thương tích 4%; Bà ê Thị bị thương tích 15%.
Ngày 12.12.2016, chị ê Thị V và chị Tr n Thị N có đơn yêu c u khởi tố vụ án hình sự.
Tại Bản án sơ thẩm số 66/2017/HSST ngày 05/7/2017 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 104; Điểm b, h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật ình sự.
Xử phạt: Lê Quang T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Lê Quang H nhưng bị cáo này không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị; Tuyên về án phí và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 13/7/2017 bị cáo Lê Quang T có đơn kháng cáo với nội dung: Thương tích của người bị hại chỉ 3% - 4%, sau khi xảy ra vụ án bị cáo đ b i thường chi phí thuốc men cho người bị hại, hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, các con còn nh , vợ bệnh nặng nên xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề xu t quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về mặt hình th c: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Quang T có đ y đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và n m trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ, c n được xem xét.
Về mặt nội dung: Do có mâu thu n từ trước nên khoảng 23 giờ 45 phút ngày 16/8/2016, Lê Quang T đ c ng với con trai là ê Quang đến quán bà ê Thị V để gây sự và đánh nhau. Tại đây, T, ân d ng tay, chân đ m đá bà V và chị Tr n Thị N là con bà V. Khi bà ê Thị là mẹ bà V vào can ngăn c ng bị các bị cáo làm té ngã. H tiếp tục d ng v chai bia đánh vào đ u N, T d ng tay đánh vào người N. ậu quả: Bà V bị thương tích 4%; chị N bị thương tích 3%; bà G bị thương tích 15%. au sự việc, bà V và chị N có đơn yêu c u khởi tố vụ án hình sự. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2017/HSST ngày 05/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đ xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 1 Điều 104 Bộ luật ình sự là có căn c , đúng tội. Bản án sơ thẩm c ng đ xem xét m c độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật ình sự, xử phạt bị cáo m c án 06 tháng tù là ph hợp. Tuy nhiên tại c p phúc thẩm bị cáo xu t trình ch ng c ch ng minh gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ bị bệnh suy thận giai đoạn cuối. Do đó đề nghị ội đ ng xét xử ch p nhận kháng cáo của bị cáo, gi nguyên m c hình phạt nhưng chuyển cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội lo cho gia đình.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Quang T c ng thừa nhận Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đ xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 1 Điều 104 Bộ luật ình sự là đúng và bị cáo gi nguyên nội dung kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Quang T khai nhận hành vi phạm tội ph hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, ph hợp với các tài liệu khác có trong h sơ vụ án. Do đó Hội đ ng xét xử có cơ sở để khẳng định: Vì có mâu thu n từ trước nên, khoảng 23 giờ 45 phút ngày 16/8/2016, Lê Quang T đ c ng với con trai là ê Quang đến quán bà ê Thị V để gây sự và đánh nhau. Tại đây, T, H d ng tay, chân đ m đá bà V và chị Tr n Thị N là con bà V. Khi bà ê Thị là mẹ bà V vào can ngăn c ng bị các bị cáo làm té ng . tiếp tục d ng v chai bia đánh vào đ u N, T d ng tay đánh vào người N. ậu quả: Bà V bị thương tích 4%; chị N bị thương tích 3%. Hành vi của bị cáo tuy mới gây thương tích nhẹ cho nh ng người bị hại nhưng thể hiện ý chí quyết tâm phạm tội cho b ng được. C ng trong đêm 16/8/2016 bị cáo đ 03 l n sang gây sự cho đến khi đ gây được thương tích như trên cho nh ng người bị hại thì bị cáo mới chịu dừng lại. au sự việc, các bị hại ê Thị V, Tr n Thị N có đơn yêu c u khởi tố vụ án hình sự. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2017/HSST ngày 05/7/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đ xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật ình sự là có căn c , đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo thì th y: Trong vụ án này, bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê con của mình c ng phạm tội, với hành vi tích cực và thể hiện ý th c quyết tâm phạm tội đến c ng. Do đó T là người phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án đối với hậu quả xâm hại đến s c kh e của người khác, gây ảnh hưởng x u đến trật tự trị an x hội. Tòa án c p sơ thẩm đ đánh giá đúng vai trò, tính ch t vụ án, hành vi của bị cáo, đ ng thời đ áp dụng đ y đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng, xử phạt bị cáo m c án 06 tháng t là ph hợp, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung c p tình tiết mới là hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ mắc bệnh suy thận. Nhưng xét m c án đối với bị cáo là tương x ng nên Hội đ ng xét xử căn c Điểm a Khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng ình sự không ch p nhận kháng cáo của bị cáo c ng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. i nguyên Bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Lê Quang T và gi nguyên Bản án sơ thẩm.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 104; Điểm b, h, p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật ình sự.
Xử phạt: Lê Quang T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Quang T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đ ng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - VKSND quận Thanh Khê; - Công an thành phố Đà Nẵng; - Công an quận Thanh Khê; - PV27; PC81 công an thành phố ĐN; -Toà án nhân dân quận Thanh Khê; - Sở Tư pháp thành phố ĐN; - Bị cáo; - Lưu: HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Mạnh |