vanban.org

Bản án 176/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 04/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12-5-2026. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh P tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2026/HS-ST
Ngày 04-8-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Như Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Ngọc Hồi;

2. Bà Đặng Thị Mộng Thu.

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Hoàng Liêm, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Minh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 154/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh P, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: khu phố T (nay là khu phố T), phường B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng V và bà Nguyễn Thị C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không có; tiền sự: có 01 tiền sự: Tại Quyết định số: 33/2024/QĐ-TA ngày 23-7-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh) về việc Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành là 12 tháng, chấp hành xong ngày 11-5-2025, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị bắt tạm giam từ ngày 12-5-2026 cho đến nay tại Phân trại tạm giam T thuộc Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh P là người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 07/QĐ-UBND ngày 13/5/2025, của Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T (nay là phường B, tỉnh Tây Ninh). Vào khoảng 10 giờ ngày 07/02/2026, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên P đến nhà Trần Huy C1, sinh năm 1988 ngụ tại khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh để tìm ma túy sử dụng thì thấy C1 đang đứng ngoài cửa, P hỏi xin ma túy để sử dụng thì C1 chỉ bộ dụng cụ có sẵn ma túy cất giấu dưới nền đất gần cái bàn nhỏ trong phòng. Lúc này, P vào phòng lấy bộ dụng cụ có sẵn ma túy đá dùng bật lửa đốt chất ma túy hút hai hơi, C1 đi vào tự lấy bộ dụng cụ có sẵn ma túy dùng bật lửa đốt chất ma túy hút một hơi bỏ xuống nền đất, sau đó ra khỏi phòng, còn P tiếp tục sử dụng ma túy thì bị Công an phường N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và test nhanh chất ma túy trong cơ thể, kết quả dương tính với chất ma túy (Bút lục số 04, 05, 06, 63, 64).

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh P đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

* Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể (test nhanh nước tiểu) ngày 07/02/2026, của Công an phường N đối với Nguyễn Thanh P, thể hiện: Dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine (Bút lục số 02).

Kết luận giám số: 525/KL-KTHS ngày 16/02/2026 của Phòng K Công an tỉnh T: Trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Thanh P, sinh năm 1991, ngụ khu phố T, phường B, tỉnh Tây Ninh (Kí hiệu M2) gửi đến giám định có tìm thấy thành phần chất ma tuý; loại Methamphetamine và A (Bút lục số 15).

Bản Cáo trạng số 199/CT-VKSKV11, ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo P.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo P xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo thể hiện:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Nguyễn Thanh P là người nghiện ma túy. Ngày 23-7-2024, Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 – Tây Ninh) ban hành Quyết định Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 33/2024/QĐ-TA, thời gian chấp hành là 12 tháng, bị cáo P đã chấp hành xong ngày 11-5-2025. Chủ tịch Ủy ban xã T (nay là phường B) tỉnh Tây Ninh đã quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy đối với P thời gian từ ngày 13/5/2025 đến ngày 13/5/2027. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 07-02-2026, tại phường N, tỉnh Tây Ninh, bị cáo P tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện và bắt quả tang. Ngày 07-02-2026, Công an phường N tiến hành test nhanh ma túy xác định bị cáo P dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine. Tại Kết luận giám định số 525/KL-KTHS ngày 16/02/2026 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Thanh P (kí hiệu M2) gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và A. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật phòng chống ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác do nghiện ma túy gây ra. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa bị cáo P đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo P được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt áp dụng:

Hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy các hình phạt khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm. Căn cứ Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp, công việc ổn định, xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Trần Huy C1 có hành vi cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng cho Nguyễn Thành P1 sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Tây Ninh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với C1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 của Bộ luật Hình sự và xử lý trong vụ án khác.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 12-5-2026.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Thanh P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và Điều 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ