- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng N - Trần Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 176/2026/HNGĐ-ST Ngày: 10-7-2026 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Thanh Hùng;
2. Ông Nguyễn Quốc Dũng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà M - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 157/2026/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 3 năm 2026 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2026/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 2000; địa chỉ: tổ A, ấp V, xã A, tỉnh An Giang; có mặt.
Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ A, ấp A, xã V, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng N trình bày, sau thời gian tự tìm hiểu, bà N và ông Trần Văn H kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh An Giang, vào ngày 30/11/2018. Trong thời gian chung sống, bà N, ông H có một con chung tên Trần Thiện N1, sinh ngày 06/7/2020. Trong khoảng thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng không còn chung sống từ năm 2022 đến nay.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông H; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thiện N1, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Giấy chứng nhận kết hôn số 158 ngày 30/11/2018 do Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T (nay là xã V), tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Trần Văn H; Giấy khai sinh số 201 ngày 10/7/2020 do Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T (cũ) cấp đối với Trần Thiện N1.
- Bị đơn ông Trần Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà N và ông H kết hôn vào năm 2018, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà N, ông H hợp pháp, được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng không còn sống chung khoảng 02 năm nay và bỏ mặc không hàn gắn tình cảm. Do đó, tình trạng hôn nhân của ông H, bà N đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn với ông H là có cơ sở
chấp nhận.
Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà N, giao cháu N1 cho bà N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; ông H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung, do đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, Điều 81, 82, 83, 48 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 91, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N; bà N được ly hôn với ông H; bà N được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Thiện N1; nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Hồng N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn H. Đồng thời, ông H cư trú trên địa bàn xã V, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Trần Văn H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Bà N và ông H tự nguyện kết hôn vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà N xác định, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống. Bà N, ông H không còn sống chung từ năm 2022 cho đến nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà N và ông H thường xuyên cãi vã và không còn sống chung từ khoảng năm 2022 cho đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã ban hành Thông báo số 52/TB-TA ngày 22/4/2026 yêu cầu ông H cung cấp lời khai và giao nộp tài liệu, chứng cứ về nội dung sự việc, yêu cầu khởi kiện của bà N nhưng ông H không thực hiện và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà N. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà N, ông H là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông H theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà N xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Trần Thiện N1, sinh ngày 06/7/2020. Bà N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy, con chung đang được bà N chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu N1 cho bà N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà N không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi dưỡng cháu N1 nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng N.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với ông Trần Văn H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 158 ngày 30/11/2018 do Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T (nay là xã V), tỉnh An Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng N và ông Trần Văn H không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Hồng N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Thiện N1, sinh ngày 06/7/2020. Ông Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Bà Nguyễn Thị Hồng N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 302246 do Thi hành án dân sự tỉnh An Giang cấp ngày 05 tháng 3 năm 2026; bà Nguyễn Thị Hồng N đã nộp đủ án phí.
Ông Trần Văn H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Hồng N có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Trần Văn H được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 15 – An Giang (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Phòng THADS khu vực 15 – An Giang (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Chí Bình |