vanban.org

Bản án 176/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc T1; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2025/HS-ST, ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh BN, quyết định:

Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T1 tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Vũ Ngọc T1 để đảm bảo việc thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc T1 - Trộm cắp - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc T1; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2025/HS-ST, ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh BN, quyết định:
  • Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2025/HS-PT
Ngày: 22/8/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường.;

Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Lợi và Ông Nguyễn Trọng Đoàn;

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Hải Anh, Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh BN, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại HN mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2025/HS-ST, ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh BN

Vũ Ngọc T1, sinh năm 1990; Tên gọi khác: Vũ Văn T1.

Nơi ĐKHKTT: thôn ĐC, xã PL, huyện NQ, tỉnh NB (nay là: Thôn ĐC, xã QL, tỉnh NB); giới tính: Nam; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1968; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: có 03 tiền án.

- Tại Bản án số 59/2013/HSST ngày 19/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện NQ, tỉnh NB xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2014, chấp hành xong án phí ngày 05/12/2013.

+ Tại Bản án số 28/2016/HSST ngày 24/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện NQ, tỉnh NB xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1, Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2019, chấp hành xong án phí ngày 14/10/2016.

+ Tại Bản án số 111/2020/HSST ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố BN, tỉnh BN xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/3/2023, chưa chấp hành xong án phí và bồi thường trách nhiệm dân sự.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 02/11/2007, bị Công an huyện NQ, tỉnh NB phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

+ Ngày 08/3/2008 bị Công an huyện NQ, tỉnh NB phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

+ Tại Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 12/01/2011 của UBND huyện NQ, tỉnh NB áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm chữa bệnh Giáo dục – Lao động xã hội tỉnh NB thời hạn 24 tháng. Ngày 14/01/2013, bị can chấp hành xong Quyết định.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh BN; Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo (do Tòa án chỉ định): Bà Nguyễn Thị Đ1, Luật sư Công ty luật TNHH DT, Đoàn luật sư tỉnh BN. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 05 giờ 30 phút ngày 28/8/2024, tại thôn LS, thị trấn L, huyện TD, tỉnh BN, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh BN phối hợp với Công an thị trấn L, huyện TD kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Vũ Ngọc T1, sinh năm 1990, HKTT: thôn ĐC, xã PL, huyện NQ, tỉnh NB có hành vi cất giấu chất tinh thể màu trắng; các viên nén màu hồng, màu xanh và màu nâu nghi chất ma túy trong người. Vật chứng thu giữ:

- Thu trong người phía trước bụng bên trong áo của T1 01 túi nilon màu đen, mở túi nilon màu đen bên trong có:

+ 01 túi nilon màu xanh chứa chất tinh thể màu trắng;

+ 01 túi nilon màu vàng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;

+ 22 túi nilon màu xanh bên trong đều chứa các viên nén màu hồng và màu xanh.

+ 03 túi nilon màu hồng bên trong đều chứa các viên nén màu hồng và màu xanh.

- Thu tại túi quần trước bên phải T1 đang mặc:

+ 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các viên nén màu vàng và màu nâu.

+ 02 túi nilon màu trắng bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng.

Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 xe ôtô nhãn hiệu MGZS BKS 35A-241.67 do T1 điều khiển. Tiến hành kiểm tra xe ôtô trên phát hiện trên ghế lái có treo 01 túi đeo chéo, bên trong túi có 01 khẩu súng dạng Colt, bên trong ổ súng chứa 03 viên đạn màu vàng.

Tổ công tác niêm phong toàn bộ số vật chứng thu trên người T1 vào 01 hộp giấy; niêm phong 01 khẩu súng chứa 03 viên đạn trong một túi nilon và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T1 trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Xuân H3, sinh năm 1962, trú tại: thôn LG, thị trấn L, huyện TD, tỉnh BN và anh Hoàng Trọng T2, sinh năm 1988, trú tại: xã ND, huyện TD, tỉnh BN.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh BN tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Ngọc T1 tại thôn ĐC, xã PL, huyện NQ, tỉnh NB. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của T1.

Tại bản Kết luận giám định số 2068/KL-KTHS ngày 20/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN, kết luận:

- Vật chứng thu trong người phía trước bụng bên trong áo của T1:

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu vàng có khối lượng là 595,27 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.

+ Các viên nén màu hồng và màu xanh bên trong 22 túi nilon màu xanh và 03 túi nilon màu hồng có khối lượng là 321,31 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu xanh có khối lượng là 548,32 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.

- Vật chứng thu tại túi quần trước bên phải T1 đang mặc:

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng thứ nhất có khối lượng là 3,26 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.

+ Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng thứ hai có khối lượng là 20,55 gam; Là ma túy; Loại ma túy Ketamine.

+ Các viên nén màu vàng và màu nâu bên trong 01 túi nilon màu trắng có khối lượng là 13,23 gam; Là ma túy; Loại ma túy MDMA.

Tại bản Kết luận giám định số 2082/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN, kết luận:

+ 01 (một) vật dạng súng ổ quay dài 12,5cm bằng kim loại màu xám, ốp tay cầm bằng nhựa màu đen gửi giám định không phải là vũ khí.

+ 03 (ba) viên đạn bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng cao su màu đen gửi giám định là đạn cao su cỡ 9x22mm, thuộc công cụ hỗ trợ, không phải vũ khi quân dụng”.

Tại bản Kết luận giám định số 2157/KTHS ngày 15/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BN, kết luận số khung, số máy của chiếc xe ôtô nhãn hiệu MGZS BKS 35A- 241.67:

+ “Số khung, số máy của xe ô tô gửi giám định không bị tẩy xóa, đóng đục lại; Hàng chữ số: “MMLW74U43MG025066* đóng trên khung xe và hàng chữ số: 15S4C*CTTM5210037* đóng trên thân máy là nguyên thủy”.

Tại Bản Cáo trạng số: 190/CT-VKSBN-P1 ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BN đã truy tố bị cáo Vũ Ngọc T1 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2025/HS-ST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh BN đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T1 tử hình

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 21/01/2025, bị cáo Vũ Ngọc T1 có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội không oan, chỉ kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Vũ Ngọc T1: Về tội danh, nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm là đúng người đúng tội, bị cáo cũng thừa nhận tội danh và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải và theo quy định Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, có hiệu lực ngày 01/07/2025, thì tội vận chuyển trái phép ma túy có mức hình phạt cao nhất là chung thân do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho Vũ Ngọc T1.

Đại diện Viện Công tố và xét xử phúc thẩm tại HN đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025; điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc T1, sửa Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh BN theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo xuống mức án Chung thân.

Bị cáo Vũ Ngọc T1 đồng ý với quan điểm của luật sư bào chữa, không bổ sung gì thêm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo Vũ Ngọc T1 đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 05 giờ 30 phút ngày 28/8/2024, tại thôn LS, thị trấn L, huyện TD, tỉnh BN, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh BN phối hợp với Công an thị trấn L, huyện TD bắt quả tang Vũ Ngọc T1 có hành vi vận chuyển trái phép 1.468,16 gam ma túy Methamphetamine, 20,55 gam ma túy Ketamine và 13,23 gam ma túy MDMA cho đối tượng tên Trung từ thành phố TS đến thành phố BN để hưởng số tiền 10.000.000 đồng. Khi T1 chưa kịp giao ma túy thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Do đó, có đủ căn cứ để xét xử Vũ Ngọc T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có nhân thân xấu, có nhiều tiền án, đã 03 lần bị đưa ra xét xử, chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Khối lượng ma túy bị cáo vận chuyển là đặc biệt lớn, phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo đã 03 lần bị xét xử về các hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo trở thành công dân có ích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi “vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, theo quy định Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, có hiệu lực ngày 01/07/2025, thì tội vận chuyển trái phép ma túy có mức hình phạt cao nhất là chung thân.

Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Vũ Ngọc T1; sửa bản án sơ thẩm số: 16/2025/HS-ST, ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh BN.

. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo Vũ Ngọc T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí;

Chấp nhận Kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc T1; Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2025/HS-ST, ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh BN, quyết định:

Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T1 tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Vũ Ngọc T1 để đảm bảo việc thi hành án.

Bị cáo Vũ Ngọc T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ