vanban.org

Bản án 176/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Xí H về việc ly hôn với anh Huỳnh Văn P.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Xí H và anh Huỳnh Văn P. Về con chung: Chị Lê Xi H1 nuôi con chung cháu Huỳnh Diễm M, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2007 hiện đang ở cùng chị.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Xí H về việc ly hôn với anh Huỳnh Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-5-2025
V/v Không công nhận quan hệ vợ chồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng;

Bà Nguyễn Kim Lên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 205/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Xí H, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; có mặt.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn P, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 5 năm 2025, các tài liệu trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Lê Xí H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh P sống chung với nhau năm 2006, có tổ chức hôn lễ nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, việc sống chung là tự nguyện. Chị xác định, trong thời gian chung sống vợ chồng không hòa hợp được với nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy mâu thuẫn, không tự hàn gắn được, hiện anh chị đã ly thân nhau. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục được, chị yêu cầu được ly hôn với anh P.

Về con chung: Chị xác định chị và anh P có hai người con chung, Huỳnh Trọng T, sinh năm 2004 hiện đã trưởng thành và Huỳnh Diễm M, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2007 hiện đang sống cùng chị, yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn Huỳnh Văn P trình bày:

Về hôn nhân: Anh thống nhất với trình bày của chị H về thời gian chung sống, thời gian kết hôn, hôn nhân là do anh tự nguyện lựa chọn không ép buộc. Hiện tại vợ chồng đã ly thân nhau, anh đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Có hai người con chung, Huỳnh Trọng T, sinh năm 2004 hiện đã trưởng thành và Huỳnh Diễm M, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2007 hiện đang sống cùng chị H, thống nhất giao cháu M cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Huỳnh Văn P có nơi cư trú tại ấp A, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh P, yêu cầu nuôi dưỡng con chung nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Năm 2006 chị H và anh P sống chung với nhau là hoàn toàn tự nguyện, tuy nhiên không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên không có cơ sở công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh chị. Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh P và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ chồng phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng gữa chị H và anh P là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về con chung: Chị H và anh P thống nhất xác định giữa anh chị có hai người con chung là Huỳnh Trọng T và Huỳnh Diễm M, cháu T hiện trưởng thành có cuộc sống ổn định, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với cháu M hiện đang sống cùng với chị H, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu M cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện cụ thể các bên, đúng quy định pháp luật.

[4] Về cấp dưỡng: Chị H xác định không yêu cầu anh P cấp dưỡng đối với cháu M, đây là ý chí tự nguyện của chị nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Chị thống nhất xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung các bên có quyền khởi kiện trong vụ án khác theo quy định pháp luật.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, anh P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Xí H về việc ly hôn với anh Huỳnh Văn P.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Xí H và anh Huỳnh Văn P.

2. Về con chung: Chị Lê Xi H1 nuôi con chung cháu Huỳnh Diễm M, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2007 hiện đang ở cùng chị.

Anh Huỳnh Văn P có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị Lê Xí H.

Vì lợi ích của con chưa thành niên nên anh Huỳnh Văn P có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và chị Lê Xí H có quyền yêu cầu cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Lê Xí H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, chị có dự nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005586 ngày 08 tháng 5 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ