vanban.org

Bản án 176/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Sawad T.

Buộc bà Phạm Cẩm T thanh toán cho Công ty cổ phần Sawad T số tiền 8.745.000 đồng (Tám triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng). Công ty cổ phần Sawad T có trách nhiệm trả lại Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005532 ngày 07/6/2016 cho bà Phạm Cẩm T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "Công ty CP Sawad T - Phạm Cẩm T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Sawad T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2025/DS-ST
Ngày: 16 - 5 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trường Hận

Bà Lâm Yến Nhi

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 948/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần Sawad T; Địa chỉ: Số 128, đường N, phường B, Thành phố V, tỉnh N.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1989 – Chức vụ: Nhân viên; Địa chỉ: Số 67F, đường H, Khóm 7, Phường 7, thành phố C, tỉnh C (Xin vắng mặt).

Bị đơn: Bà Phạm Cẩm T, sinh năm 1997; Cư trú: Ấp V, xã T, huyện T, tỉnh C. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2024, bản tự khai ngày 15/5/2025, người đại diện theo theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Trần Thanh T trình bày:

Ngày 15/3/2024, bà Phạm Cẩm T ký với Công ty cổ phần Sawad T (Sau đây gọi tắt là Công ty) hợp đồng cầm cố tài sản số C3M240301.001NA16X, theo đó, bà T cầm cố tài sản là 01 xe mô tô biển kiểm soát 94D1-279.18, nhãn hiệu Honda, loại AIR BLADE, với số tiền 10.265.957 đồng, thời hạn cầm cố 12 tháng, kể từ ngày 15/3/2024 đến 15/3/2025, lãi suất cầm cố 1,1%/tháng và phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền, lãi quá hạn bằng 4% số tiền quá hạn thanh toán/tháng tính từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, Công ty đã giải ngân cho bà T số tiền trên.

Công ty cho bà T mượn lại xe để sử dụng trong thời hạn 01 tháng từ ngày 15/3/2024 đến ngày 15/4/2024, phí mượn xe là 513.297,87 đồng/tháng. Bà T giao cho Công ty bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nêu trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã thanh toán cho Công ty được số tiền gốc 4.681.000 đồng.

Từ ngày 15/7/2024 bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả xe và nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại hợp đồng cầm cố.

Nay Công ty yêu cầu bà T thanh toán cho Công ty số tiền tính đến ngày 16/5/2025 là 8.745.000 đồng (Trong đó, nợ gốc 7.879.164 đồng, lãi trong hạn 606.696 đồng, lãi quá hạn 260.012 đồng).

Đối với bị đơn bà Phạm Cẩm T: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham dự phiên tòa nhưng bà T không có mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà T đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Sawad T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Trần Thanh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn bà Phạm Cẩm T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa. Do đó căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà T.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Sawad T về việc đòi bị đơn bà Phạm Cẩm T thanh toán số tiền 8.745.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 15/3/2024 giữa bà Phạm Cẩm T và Công ty cổ phần Sawad T (Sau đây gọi tắt là Công ty) đã ký kết hợp đồng cầm cố tài sản số C3M240301.001NA16X, theo đó, bà T cầm cố cho Công ty 01 xe mô tô biển kiểm soát 94D1-279.18, nhãn hiệu Honda, loại AIR BLADE, với số tiền 10.265.957 đồng, thời hạn cầm cố 12 tháng, lãi suất cầm cố 1,1%/tháng và phí quản lý hồ sơ 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền, lãi quá hạn bằng 4% số tiền quá hạn thanh toán/tháng tính từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Công ty đã giải ngân cho bà T số tiền trên và bà T đã giao cho Công ty bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Công ty cho bà T mượn lại xe để sử dụng trong thời hạn 01 tháng từ ngày 15/3/2024 đến ngày 15/4/2024, phí mượn xe là 513.297 đồng/tháng.

Xét thấy, việc giao kết hợp đồng cầm cố tài sản giữa đôi bên là thực tế có xảy ra. Các bên đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện khi giao kết hợp đồng. Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng cầm cố tài sản nêu trên có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm giao kết.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã thanh toán cho Công ty số tiền 4.681.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 7.879.164 đồng. Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi nên khoản vay đã chuyển quá hạn từ ngày 16/3/2025.

Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, bà T không có ý kiến phản đối trước yêu cầu khởi kiện của Công ty nên việc Công ty yêu cầu bà T thanh toán nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn tổng số tiền 8.745.000 đồng là có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 437.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 309, 310, 315 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Sawad T.

Buộc bà Phạm Cẩm T thanh toán cho Công ty cổ phần Sawad T số tiền 8.745.000 đồng (Tám triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Công ty cổ phần Sawad T có trách nhiệm trả lại Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005532 ngày 07/6/2016 cho bà Phạm Cẩm T.

2. Về án phí:

- Bà Phạm Cẩm T phải chịu án phí số tiền 437.000 đồng (Bốn trăm ba mươi bảy nghìn đồng), chưa nộp.

- Công ty cổ phần Sawad T không phải chịu án phí. Ngày 30/10/2024 Công ty đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 302.000 đồng (Ba trăm lẻ hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005812 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, được nhận lại.

3. Về nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Công ty cổ phần Sawad T và bị đơn bà Phạm Cẩm T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ