- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đồng Đức X bị truy tố và xét xử về tội: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đồng Đức X phạm tội “Tàng trữ , sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 176/2024/HSST Ngày 31 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Kh
Bà Hoàng Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Bế Thị Na - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 167/2024/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB-TA ngày 27 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Đồng Đức X, sinh năm 1988; tên gọi khác: Không; ĐKHKTT và trú tại: thôn Th, xã Liên Hồng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; con ông Đồng Đức Ng, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962. Vợ là Mai Thị Tr, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: chưa.
Bị bắt tạm giam ngày 28/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Đồng Đức N, anh Đồng Đức T (có mặt); ông Phạm Xuân Tr, anh Phạm Văn Kh, bà Phạm Thị Y, bà Phạm Thị Ch, bà Mai Thị Ng, ông Nguyễn Văn B, anh Đào Văn Th (Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2014, ông Đồng Đức N cho ông Phạm X Tr vay 30.000.000đồng, ông Tr đã trả ông N 10.000.000đồng, còn nợ 20.000.000đồng, ông N đòi nhiều lần ông Tr không trả còn bị đe dọa đánh nên Đồng Đức X (con ông N) nảy ý định mua súng để phòng thân khi đi đòi nợ mà bị đánh. Tháng 6/2024, X lên mạng xã hội Facebook mua của người không quen biết 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay bằng kim loại màu đen dài 16cm, tay cầm bọc nhựa màu xanh thẫm và 12 viên đạn với giá 4.100.000đồng mang về cất giấu vào khe giữa thùng đựng vỏ bia và thành bể nước cạnh nhà X. Sau đó, X lấy súng mang ra sau nhà chĩa súng lên trời bắn thử 01 viên đạn thấy đạn nổ. Do có mâu thuẫn giữa X với anh Phạm Văn Kh là con ông Tr về việc vay nợ tiền nói trên. X và Kh hẹn tối ngày 21/8/2024 gặp nhau ở sân bóng thôn Đông Lại, xã Liên Hồng, thành phố Hải Dương để nói chuyện. Vào khoảng 19 giờ ngày 21/8/2024, X điều khiển xe mô tô biển số 34B2-526.74 đến khu vực sân bóng đợi khoảng 10 phút không thấy Kh đến nên X quay xe đi về. Khi đi qua sân bóng khoảng 20m thì thấy Kh đang đứng cùng anh Phạm Văn Toàn, Vũ Văn Tuân và Vũ Văn Tiến, đều trú tai thôn Đồng Lại, xã Liên Hồng và một số Th niên khác. Nhóm của Kh cầm tuýp sắt gắn dao quắm, kiếm, gậy lao về phía X. Thấy vậy, X điều khiển xe chạy khoảng 3 - 4m thì nhóm của Kh đuối sát xe của X. X điều khiển xe bằng tay phải, tay trái rút khẩu súng dắt sau lưng ra, hướng về phía sau chếch lên trời bắn 02 phát đạn nổ để dọa. Nhóm của Kh vẫn đuổi theo khoảng vài mét thì dừng lại. Còn X đi về nhà cất giấu súng vào chỗ cũ. Đến 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương đến nhà X thì X tự nguyện giao nộp khẩu súng và 09 viên đạn.
Tại Kết luận giám định số 6512 ngày 23/8/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 01 khẩu súng gửi giám định là súng tự chế kiểu ổ quay bắn đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng còn sử dụng để bắn được. 09 viên đạn gửi giám định là đạn cỡ 5,6 x 15,5mm, thuộc vũ khí thể thao. 09 viên đạn này dùng bắn được cho các loại súng có ổ chứa đạn lắp vừa đạn cỡ 5,6 x 15,5 mm.
Kèm theo kết luận giám định: không có.
Hoàn lại đối tượng giám định: 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay bắn đạn cỡ 5,6mm, trên nòng súng có Ch SMITH & WESSON, trên tay cầm khẩu súng có Ch ZP-5.
09 viên đạn gửi giám định đã sử dụng trong quá trình bắn thực nghiệm, đã tiêu hao hết, không hoàn trả lại.
Về thu giữ, xử lý vật chứng: Chiếc xe máy biển số 34B2-526.74 thuộc quyền sở hữu của anh Đồng Đức T, sinh năm 1989, địa chỉ: thôn Th Xá, xã Liên Hồng, thành phố Hải Dương cho Đồng Đức X mượn, X đã dùng xe này làm phương tiện phạm tội, anh T không biết. Ngày 12/11/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hải Dương đã trả xe máy trên cho anh T. Đối với khẩu súng ngắn tự chế kiểu ổ quay, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hải Dương đã gửi tại kho K153 thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Hải Dương bảo quản.
Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKS-P2 ngày 25/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đồng Đức X về tội: “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Đồng Đức X khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác định Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương đối với Đồng Đức X và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Đồng Đức X phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Về hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Đồng Đức X từ 13 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/8/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 63, 64, 66, 69, 70 Luật quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: Giao 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay bắn đạn cỡ 5,6mm, trên nòng súng có Ch SMITH & WESSON, trên tay cầm khẩu súng có chữ ZP-5 cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương tiếp tục quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của UBTV Quốc hội. Bị cáo Đồng Đức X phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đồng Đức X không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề N Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên; Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với anh Đồng Đức T, tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định tham gia tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã làm rõ, xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nên xác định là người làm chứng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo Đồng Đức X tại Cơ quan điều tra, tại phiên toà, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra, biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ phù hợp với kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Trong thời gian từ tháng 6/2024 đến ngày 21/8/2024, Đồng Đức X đã có hành vi cất giấu tại chỗ ở của mình tại thôn Th Xá, xã Liên Hồng, thành phố Hải Dương 01 khấu súng ngắn tự chế kiểu ổ quay thuộc vũ khí quân dụng và 12 viên đạn thuộc vũ khí thể thao. X đã sử dụng bắn thử 01 viên đạn. Do có mâu thuẫn với anh Phạm Văn Kh, sinh năm 1994, trú tại: thôn Đồng Lại, xã Liên Hồng, thành phố Hải Dương, vào khoảng 19 giờ 00 ngày 21/8/2024, tại đường Âu Cơ thuộc thôn Đồng Lại, xã Liên Hồng, thành phố Hải Dương, X đã dùng súng hướng lên trời bắn 02 viên đạn nổ nhằm đe dọa Kh. Sau đó, X mang súng về nhà cất giấu thì bị phát hiện, thu giữ khẩu súng và 09 viên đạn.
Theo kết luận giám định thì khẩu súng thu giữ của Đồng Đức X là súng tự chế kiểu ổ quay bắn đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện khẩu súng này còn sử dụng để bắn được. Như vậy, đủ căn cứ kết luận Đồng Đức X phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự. Đồng Đức X là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được súng bắn được đạn là vũ khí gây sát thương. Nhà nước nghiêm cấm cá nhân, tổ chức có hành vi liên quan đến việc mua bán, tàng trữ, chế tạo,.....vũ khí quân dụng khi chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, nhưng do coi thường pháp luật mà bị cáo đã thực hiện hành vi cất giữ và sử dụng vũ khí quân dụng trái phép, bị cáo thực hiện hành vi do cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm chính sách quản lý về vũ khí quân dụng của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn công cộng tại địa phương và xã hội, đây là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Do đó, xác định Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đồng Đức X về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Về nhân thân: Đồng Đức X là người chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, Đồng Đức X đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bản thân đã tích cực tham gia, có thành tích xuất sắc trong phòng chống Covid năm 2020-2021 được UBND xã Liên Hồng xác nhận và có bố đẻ được tặng Kỷ niệm chương vì có thành tích trong chiến đấu, công tác trên biên giới phía Đông Bắc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Đồng Đức X phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe máy biển số 34B2-526.74 là tài sản hợp pháp anh Đồng Đức T, sinh năm 1989, trú tại: thôn Th Xá, xã Liên Hồng, thành phố Hải Dương. Ngày 12/11/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hải Dương đã trả xe máy trên cho anh T, anh T không có đề nghị gì nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay bắn đạn cỡ 5,6mm thu giữ của Đồng Đức X giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương tiếp tục quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật, Điều 63, 64, 66, 69, 70 Luật quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Đối với 09 viên đạn gửi giám định, cơ quan giám định đã sử dụng bắn thực nghiệm, không hoàn trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.
Về án phí: Bị cáo Đồng Đức X bị kết án nên phải nộp án phí sơ thẩm hình sự theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội.
Về các vấn đề khác:
- Đối với hành vi mua bán khẩu súng và 12 viên đạn nói trên của Đồng Đức X, không xác định người bán là ai nên không đủ căn cứ để xử lý về hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng.
- Đối với hành vi đánh nhau giữa Đồng Đức X với nhóm của Phạm Văn Kh vào tối ngày 21/8/2024 tại khu vực sân bóng thôn Đồng Lại, xã Liên Hồng, thành phố Hải Dương chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương nên chưa cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng, theo quy định tại Điều 318 của Bộ luật hình sự. Ngày 16/11/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hải Dương có Công văn số 473 chuyển tài liệu đến UBND xã Liên Hồng, thành phố Hải Dương để xử lý theo thẩm quyền.
- Đối với hành vi tàng trữ trái phép 09 viên đạn thể thao của Đồng Đức X, ngày 16/11/2024 Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hải Dương có Công văn số 474 chuyển tài liệu đến UBND thành phố Hải Dương xử lý theo thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 63, 64, 66, 69, 70 Luật quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25-11-2015; N quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đồng Đức X phạm tội “Tàng trữ , sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
2. Về trách nhiệm hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Đồng Đức X 14 (Mười bốn)
tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/8/2024.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng
3. Về xử lý vật chứng:
Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương tiếp tục quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật: 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay bắn đạn cỡ 5,6mm thuộc vũ khí quân dụng.
(Theo biên bản bàn giao súng pháo, khí tài ngày 09/9/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh Hải Dương và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương).
4. Về án phí: Bị cáo Đồng Đức X phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đồng Đức X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thu |