- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? X phạt bị cáo Trịnh Văn T 28 ( ai mươi tám) tháng tù về tội “Tr m cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2022.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình s; Điều 173 Bộ luật hình s; Điều 331 Bộ luật tố tụng hình s
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 176/2022/HSST Ngày: 28/6/2022 |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N N QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- h nh h n i n
ơ h
:
Th m phán - Ch t a phiên t a: Bà Tạ Thị H
Các i th m nh n d n:
Bà Đỗ Thị T
Ông Nguyễn Việt A
- h
hi n a Bà Vi Thanh H - Thư ký Tòa án nhân dân quận
Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện iể á nhân dân quận o n Mai, h nh hố
N i ha ia hi n a Ông Nguyễn Hoàng P - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội t s th m công khai vụ án hình s thụ lý số 169/2022 H T ngày 13 tháng 6 năm 2022, theo uy t định đưa vụ án ra t số 179/2022/HSST-Đ ngày 15 tháng 6 năm 2022 đối v i bị cáo:
Trịnh VănT, sinh năm 1971, tại Hà Nội; N i đăng ký hộ kh u thường trú: Tổ 19 Chùa Liên, phường Cầu Dền, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: ố 3 ngách 85 ngõ Chùa Liên Phái, phường C, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: T do; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn B và bà Vũ Thị T; Tiền s : Không; Tiền án: Bản án số 193 2012 H T ngày 27 11 2012 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành ong hình phạt tù ngày 08 01 2014 (chưa xóa án tích do chưa n p tiền án phí hình sự sơ th m); Bản án số 121 2019 H T ngày 05 06 2019 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành ong hình phạt tù ngày 26 04 2020 (Chưa xóa án tích); Nhân thân: Tiền s : Các năm 1985, 1989, 2005, 2009: 04 lần bị phạt vi phạm hành chính về các hành vi Trộm cắp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và Tàng trữ trái ph p chất ma túy ( Các tiền sự đều đã hết thời hiệu); Tiền án: Bản án số 192 H T ngày 23 8 1988, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng x phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Bản án số 160/HSST ngày 10/8/1989 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng x phạt 18 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản của công dân”; Bản án số 273 H T ngày 20/11/1991 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng x phạt 18 tháng tù về tội “ Cố ý gây thư ng tích”; Bản án số 696 H T ngày 25 9 1993, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội x phạt 04 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản của công dân”; Bản án số 484 H T ngày 17 10 2002, Tòa án nhân dân quận Đống Đa x phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 229 H T ngày 23/9/2010, Tòa án nhân dân quận Hoàn Ki m x phạt x phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 167 2011 H T ngày 24 5 2011, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng x phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 58 2016 H T ngày 04 02 2016, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân x phạt 15 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”; (Các tiền án đều đã được xóa án tích). Bắt quả tang ngày 25/02/2022; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội; Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Phư ng T; sinh năm 1990; HKTT: ố 4 ngách 25 7 Vũ Ngọc Phan, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội; N i ở: 63 Lĩnh Nam, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội; Vắng mặt.
NỘI UNG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 25 02 2022, Trịnh Văn T điều khiển e máy nhãn hiệu Wavethai biển kiểm soát 29E1-560.57 đi đ n đoạn giữa khu tập thể C46 và C47, phố Mai Động thì nhìn thấy chị Nguyễn Phư ng T đi e máy hư ng ngược lại và đeo trên lưng chi c túi ba lô nên Tú nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi chị T điều khiển e rẽ vào C40 và C47, phố Mai Động, T d ng e ở trư c C46 rồi chạy bộ đuổi theo đ n trư c số 103C38 thì dùng tay trái nắm vào đuôi e và dùng tay phải k o khóa mở túi ba lô sau lưng chị Thảo, lấy được chi c ví bên trong có 3.800.000 đồng. Ngay khi T vừa lấy được ví thì chị T quay lại và thấy T đang cầm chi c ví của mình trên tay phải. Chị T vừa hô hoán vừa giằng lại chi c ví. T bỏ chạy đ n vị trí để e máy của mình nhưng bị chị T cùng một số người dân đuổi theo giữ T lại và báo cho l c lượng công an đ n lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối v i Trịnh Văn T, thu giữ các vật chứng liên quan, sau đó bàn giao C quan điều tra để giải quy t theo th m quyền.
Vật chứng c a vụ án đã thu giữ: Khi bắt quả tang, l c lượng công an đã thu giữ của Trịnh Văn T 01 e máy nhãn hiệu Wave màu anh đen biển kiểm soát 29E1-560.57, số khung 001257, số máy 000257; Thu do chị Nguyễn Phư ng T giao nộp 01 chi c ví giả da màu ghi kích thư c (10 20)cm, bên trong ví có 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 VNĐ, 04 tờ tiền mệnh giá 200.000 VNĐ.
Tại K t luận định giá tài sản số 44 KL-HĐĐGT ngày 31 3 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình s quận Hoàng Mai k t luận: 01 chi c ví giả da màu ghi, kích thư c (10 20)cm trị giá 50.000 đồng.
uá trình giải quy t vụ án, C quan điều tra đã quy t định lý vật chứng, trả lại chi c ví giả da và số tiền 3.800.000 đồng đã thu giữ cho chị Nguyễn Phư ng T.
Đối v i chi c e máy đã thu giữ của Trịnh Văn T, là tài sản của ông Trịnh Văn K sinh năm 1961, trú tại phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, là anh ruột của T. uá trình điều tra ác định, ông K cho T mượn e máy để làm nghề e ôm, không bi t T s dụng e làm phư ng tiện phạm tội. K t quả tra cứu e không có trong c sở dữ liệu e máy vật chứng, giám định số khung và số máy của e trên là số nguyên thủy nên C quan điều tra đã trả lại e trên cho ông K.
uá trình điều tra, Trịnh Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 166/CT-VKS ngày 08/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố Trịnh Văn T về tội “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trịnh Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận Hoàng Mai truy tố là đúng v i hành vi bị cáo đã th c hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai th c hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo; sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ cùng nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng t : Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017:
- X phạt bị cáo Trịnh Văn T từ 28 tháng đ n 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung v i bị cáo.
- Về trách nhiệm dân s : Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu nên không giải quy t.
Bị cáo Trịnh Văn T không có tranh luận gì v i lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng t
em t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quy t định tố tụng của C quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình s . Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý ki n khi u nại về hành vi, quy t định của c quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng; Do đó các hành vi, quy t định tố tụng của các c quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã th c hiện đều hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ ác định tội danh: Lời khai của bị cáo Trịnh Văn T tại phiên tòa phù hợp v i lời khai người bị hại, tang vật thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s vụ án có đủ c sở k t luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 25 02 2022 lợi dụng s s hở của chủ sở hữu, Trịnh Văn T đã lén lút ti p cận và k o khóa mở túi ba lô chị Nguyễn Phư ng T đeo sau lưng khi chị T đang điều khiển e máy đ n trư c c a số nhà 103, C38 tập thể Mai Động và lấy được chi c ví màu giả da màu ghi thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Tổng trị giá tài sản bị cáo chi m đoạt của chị Thảo là 3.850.000 đồng gồm: Chi c ví trị giá 50.000 đồng và số tiền mặt để bên trong ví 3.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ y u tố cấu thành tội “Tr m cắp tài sản”quy định tại Điều 173 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017. Tại bản án số 121/2019/HSST ngày 05/06/2019 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội đã ác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm và phạt bị cáo 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành ong hình phạt tù ngày 26 04 2020. Bản án này chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình ti t định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình s . Cáo trạng số 166/CT-VKS ngày 08/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đề nghị truy tố t bị cáo Trịnh Văn T theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ đúng pháp luật.
[3]. X t tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật t trị an ã hội và âm phạm tr c ti p đ n quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ.
[4]. Về nhân thân và các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s : Bị cáo Trịnh Văn Tú có nhân thân ấu có nhiều tiền án, tiền s được c quan pháp luật cải tạo giáo dục nhiều lần nhưng bị cáo không chịu s a đổi, làm ăn lư ng thiện mà vẫn ti p tục phạm tội, thể hiện bị cáo không có ý thức tuân thủ pháp luật nên cần phạt nghiêm khắc đối v i bị cáo. Khi lượng hình, Hội đồng t
t thấy tại c quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành kh n nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5]. Về quy t định hình phạt: au khi em t tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình s , nhân thân của bị cáo, t thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn ti p tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống ã hội một thời gian m i có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và ã hội. Bị cáo không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối v i bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân s : Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về bồi thường dân s nên không t.
[7]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình s s th m và được quyền kháng cáo theo luật định.
V á
r n
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình s năm 2015 s a đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình s năm 2015; Điều 23 Nghị quy t số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quy t:
1. X phạt bị cáo Trịnh Văn T 28 ( ai mươi tám) tháng tù về tội “Tr m cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2022.
Miễn hình phạt bổ sung đối v i bị cáo.
2. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Trịnh Văn T phải chịu 200.000 ( ai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình s s th m và được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận -VKSND quận Hoàng Mai; - Công an quận Hoàng Mai; - Chi cục THAD quận Hoàng Mai; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ s vụ án. . | T.M HỘI Đ NG X T X TH M Th m phán – Ch t a phiên tòa Tạ Thị H |