vanban.org

Bản án 176/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 01/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phí Hoàng Trung A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phí Hoàng Trung A 07 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian tạm giam là 72 ngày (từ ngày 21/9/2022 đến ngày 01/12/2022) = 07 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu khôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phí Hoàng Trung A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phí Hoàng Trung A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2022/HS-ST
Ngày: 01 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Anh - Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy.

2. Bà Nguyễn Ngọc Hà - Ủy viên Ban thường vụ thành đoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 163/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Phí Hoàng Trung A, sinh ngày 10/2/2006; Nơi cư trú: Số nhà 32, ngõ 707, đường L, tổ 15, phường T, thành phố T1, tỉnh T1. Chỗ ở hiện nay: Lang thang, không có chỗ ở ổn định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Không; Họ tên mẹ: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo là trẻ mồ côi, được Trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi T1 nhận nuôi.

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 164/QĐ-XPHC ngày 19/10/2021 của Công an thành phố T1 xử phạt bằng hình thức cảnh cáo vì có hành vi trộm cắp tài sản nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm A chưa đủ 16 tuổi.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T1. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Ngọc T2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T1. (có mặt)

* Bị hại: Anh Vũ Duy H, sinh năm 1973. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số nhà 15A, ngõ 01, đường N, tổ 15, phường Q, thành phố T1, tỉnh T1.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Vũ Văn C, sinh năm 1989. (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn A1, xã N1, huyện T3, tỉnh T1.

- Anh Lê Viết P, sinh năm 1970. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện V1, tỉnh T1.

- Ông Nguyễn Mạnh H1, sinh năm: 1956. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Xã N2, huyện K, tỉnh T1.

* Người làm chứng:

- Cháu Nguyễn Minh H2, sinh ngày 30/8/2007; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh T1. (vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật của cháu H2: Bà Tạ Thị T4, sinh năm 1948; Nơi cư trú: Thôn C1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh T1. (Là bà nội của H2) (vắng mặt)

- Cháu Bùi Hoàng A2, sinh ngày 02/7/2010; Nơi cư trú: Số nhà 850, đường L, tổ 18, phường T, thành phố T1, tỉnh T1. (vắng mặt)

Người đại diện theo pháp luật của cháu A2: Ông Bùi Huy Đ2, sinh năm 1972 và bà Hoàng Thị T5, sinh năm 1985; Đều cư trú tại: Số nhà 850, đường L, tổ 18, phường T, thành phố T1, tỉnh T1. (Là bố đẻ và mẹ đẻ của A2) (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phí Hoàng Trung A là trẻ mồ côi, được Trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi T1 nhận nuôi từ ngày 10 tháng 02 năm 2006. Đến khoảng cuối năm 2021, A đã tự ý bỏ trung tâm đi lang thang và có quen biết với Nguyễn Minh H2 và Bùi Hoàng A2. Khoảng 11 giờ ngày 18/9/2022, A, H2, A2 ngủ dậy tại gầm cầu B1, thuộc tổ 01, phường L1, thành phố T1, do thấy đói bụng và không có tiền để mua đồ ăn nên cả ba đã cùng rủ nhau đi đến phòng bảo vệ trước cổng chính Bảo tàng T1, thuộc tổ 1, phường L1, thành phố T1 để trộm cắp tài sản và đồ ăn. Khi đến nơi, A bảo với H2 và A2: “Vào tìm xem có cái gì lấy trộm được không”, H2 và A2 đồng ý. A đứng ngoài canh coi, A2 cùng H2 đi vào trong, thấy xung quanh và trong phòng không có ai nên H2 đã mở cửa sổ phía sau phòng bảo vệ, nhảy vào bên trong, A2 đứng cạnh cửa sổ để cảnh giới. Khi vào trong phòng bảo vệ, H2 thấy chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu ASUS, vỏ màu xanh tím than của anh Vũ Duy H đựng trong túi xách để ở cạnh đầu giường nên đã lấy chiếc máy tính mang ra cửa sổ đưa cho A2, sau đó nhảy qua cửa sổ ra ngoài. Sau khi cất giấu máy tính tại hàng rào cạnh đó, H2 và A2 quay vào khu vực bếp phía sau khu trò chơi trong khuôn viên bảo tàng thấy có một tủ lạnh, mở ra bên trong có 10 quả trứng gà nên cả hai mang trứng ra luộc. A chờ thấy lâu nên đi vào tìm, cả ba mang trứng ra khu vực sau nhà vệ sinh công cộng cùng ăn. Khi đang ăn thì H2 bảo A2 ra hàng rào lấy chiếc máy tính vừa trộm cắp được. A2 lấy máy tính mang vào đưa cho H2. Lúc này, A biết được H2 và A2 đã trộm cắp được chiếc máy tính. H2 kiểm tra máy tính xong thì đưa cho A2, bảo cất vào trong áo. Sau đó, cả ba mang chiếc máy tính đến cửa hàng phụ kiện điện thoại T6 ở số nhà 119, đường L2, phường K1, thành phố T1 do anh Vũ Văn C là chủ cửa hàng. Khi đến quán, A đi vào gặp anh C để trao đổi, thống nhất giá bán chiếc máy tính, sau đó quay ra bảo A2 và H2 cầm máy tính vào đưa cho anh C xem. Anh C có hỏi về nguồn gốc của chiếc máy tính thì A2 nhận là máy tính của mình. Anh C đồng ý mua với giá 850.000 đồng, tuy nhiên do chưa có sạc nên anh C chỉ trả cho 700.000 đồng và bảo khi nào mang sạc đến thì trả nốt 150.000 đồng. A nhận tiền rồi cả ba rời đi, H2 đi chơi điện tử còn A và A2 quay lại phòng bảo vệ của bảo tàng để lấy cục sạc máy tính. Khi đến nơi, A2 đi vào trong phòng bảo vệ lấy cục sạc, còn A ở ngoài cảnh giới. Sau khi lấy được cục sạc, cả hai cùng mang đến đưa cho anh C thì được anh C trả nốt số tiền 150.000 đồng. A cầm tiền rồi cùng A2 đi đến chỗ H2 đang chơi điện tử. Số tiền bán máy tính cả ba đã tiêu xài cá nhân hết. Sáng ngày 19/9/2022, khi H2 và A đang ngủ tại gầm cầu B1 thì lực lượng Công an phường L1, thành phố T1 đến đưa về làm việc.

Kết luận định giá tài sản số: 38/KL-HĐĐGTS ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Bình kết luận: Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 18/9/2022 là 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng), trong đó trị giá 01 máy tính Laptop nhãn hiệu ASUS đã qua sử dụng là 3.300.000 đồng và trị giá 01 sạc máy tính nhãn hiệu ASUS đã qua sử dụng là 100.000 đồng.

Bị hại là anh Vũ Duy H đã nhận lại tài sản là 01 Laptop nhãn hiệu ASUS và 01 sạc máy tính nhãn hiệu ASUS, anh Hoan không yêu cầu A, H2, A2 phải bồi thường bất kì khoản chi phí nào. Anh Lê Viết P không yêu cầu A, H2, A2 phải bồi thường giá trị 10 quả trứng gà. Anh Vũ Văn C không yêu cầu A, H2, A2 hoàn trả số tiền 850.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 179/CT-VKSTPTB ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Phí Hoàng Trung A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phí Hoàng Trung A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Phí Hoàng Trung A phạm tội "Trộm cắp tài sản".

- Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo 07 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giam là 72 ngày (từ ngày 21/9/2022 đến ngày 01/12/2022) = 07 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì dưới 18 tuổi, không có tài sản và không có thu nhập.

- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế, cân nhắc cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo Phí Hoàng Trung A nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phí Hoàng Trung A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 11 giờ ngày 18/9/2022, tại phòng bảo vệ trước cổng chính Bảo tàng T1, thuộc tổ 1, phường L1, thành phố T1, tỉnh T1, Phí Hoàng Trung A cùng với Nguyễn Minh H2, Bùi Hoàng A2 đã lợi dụng sơ hở, trộm cắp 01 máy tính Laptop nhãn hiệu ASUS, vỏ màu xanh tím than và 01 sạc máy tính nhãn hiệu ASUS màu đen, đều đã qua sử dụng, tổng trị giá 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng) của anh Vũ Duy H. Hành vi trên của Phí Hoàng Trung A đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp chiếc Laptop và sạc cùng nhãn hiệu ASUS. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố đối với bị cáo Phí Hoàng Trung A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, do đó bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Phí Hoàng Trung A thực hiện hành vi phạm tội khi mới 16 tuổi 07 tháng 08 ngày, ở độ tuổi này, bị cáo chưa chín chắn về nhận thức và hành vi. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là cần thiết, phù hợp, đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo mà không ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, thể hiện đường lối chính sách pháp luật của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội, để bị cáo quyết tâm rèn luyện, cải tạo bản thân trở thành người có ích. Không khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo là người dưới 18 tuổi, không có tài sản và không có thu nhập. Xét thấy cần thiết trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 Laptop nhãn hiệu ASUS vỏ màu xanh tím than và 01 sạc máy tính nhãn hiệu ASUS màu đen, đều đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của anh Vũ Duy H. Ngày 27/9/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã trả lại cho anh Hoan.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Vũ Duy H đã nhận lại tài sản là 01 Laptop nhãn hiệu ASUS và 01 sạc máy tính nhãn hiệu ASUS, anh Hoan không yêu cầu A, H2, A2 phải bồi thường bất kì khoản chi phí nào. Anh Lê Viết P không yêu cầu A, H2, A2 phải bồi thường giá trị 10 quả trứng gà. Anh Vũ Văn C không yêu cầu A, H2, A2 hoàn trả số tiền 850.000 đồng nên không đặt ra giải quyết.

Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Nguyễn Minh H2 và Bùi Hoàng A2 chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Công an thành phố Thái Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo và giao H2, A2 cho gia đình, chính quyền địa phương quản lý, giáo dục.

Anh Vũ Văn C là người mua chiếc laptop và sạc cùng nhãn hiệu ASUS do bị cáo cùng H2, A2 trộm cắp được nhưng không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo Phí Hoàng Trung A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 91, Điều 100 của Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Phí Hoàng Trung A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phí Hoàng Trung A 07 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian tạm giam là 72 ngày (từ ngày 21/9/2022 đến ngày 01/12/2022) = 07 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Về án phí: Bị cáo Phí Hoàng Trung A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa, anh Vũ Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vũ Duy H, anh Lê Viết P, ông Nguyễn Mạnh H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ