- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Hoài T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Huỳnh Hoài T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 176/2021/HS-ST Ngày 30-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thường Đông.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trí Dũng – Trưởng phòng giáo dục và đào tạo, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị Nguyên – Ủy viên Ban chấp hành Hội Giáo chức huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 252/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 243/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 148/2021/HSST-QĐ ngày 16 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Huỳnh Hoài T, sinh ngày 08/02/2004 tại Sóc Trăng; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 3, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Nhà trọ số B5/16U1 ấp 2, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn T và bà Đoàn Thanh L; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa;
* Người tham gia tố tụng khác:
1. Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1975 – (vắng mặt).
Bà Đoàn Thanh L, sinh năm 1978 – (có mặt).
Nơi cư trú: Nhà trọ số B5/16U1 ấp 2, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Bà Trần Ngọc Kiều Diễm – Trợ giúp viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh – (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2.3. Bị hại: Ông Trần Văn T, sinh năm 1976 – (vắng mặt).
Nơi cư trú: B12/7 ấp 2, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 23/5/2021, Huỳnh Hoài T điều khiển xe mô tô loại Jupiter biển số 60F1 – 227.19 trên đường Khuất Văn Bức thuộc xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp bạn tên thường gọi “Út Đĩ” (không rõ lai lịch), cả hai rủ nhau đi chơi game ở đường số 4, khu dân cư Tân Tạo, ấp 2, xã Tân Kiên. Khi cả hai đi ngang qua nhà trọ địa chỉ B12/7 ấp 2, xã Tân Kiên thì T nhìn thấy 01 xe mô tô loại Yamaha Nouvo biển số 59Y2 – 509.31 của ông Trần Văn T đang dựng trước nhà và chìa khóa xe cắm trên ổ khóa xe nên T nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô trên bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, T rủ Út Đĩ lấy trộm xe này nhưng Út Đĩ không đồng ý nên T chở Út Đĩ đến tiệm game, còn T điều khiển xe mô tô đi tìm bạn tên Chuyền (không rõ lai lịch). Khi T điều khiển xe mô tô quay lại đường Khuất Văn Bức thì gặp Chuyền. Lúc này, T kêu Chuyền lên xe mô tô để T chở Chuyền đi công chuyện, Chuyền đồng ý. Khi T chở Chuyền đến gần khu vực nhà trọ, địa chỉ B12/7 ấp 2, xã Tân Kiên, dừng xe cách nhà trọ khoảng 100 mét, T đưa xe mô tô biển số 60F1 – 227.19 cho Chuyền và kêu Chuyền điều khiển xe mô tô đi về nhà của Chuyền hoặc đi chơi game để T đi công chuyện, đồng thời hẹn ngày mai T quay lại tìm Chuyền để lấy lại xe mô tô. Khi Chuyền điều khiển xe mô tô biển số 60F1 – 227.19 bỏ đi, T đi bộ đến trước nhà trọ địa chỉ B12/7 ấp 2, xã Tân Kiên và quan sát thấy không có người trông coi nên T đi bộ lại gần xe mô tô biển số 59Y2 – 509.31, bật công tắc xe rồi leo lên xe, dùng chân đẩy xe di chuyển về phía trước khoảng 0,5 mét thì đề máy xe nhưng không nổ máy. Lúc này, hệ thống báo chống trộm của xe mô tô vang lên nên T bỏ xe mô tô lại, chạy bộ tẩu thoát ra hướng đường Trần Đại Nghĩa thì bị ông Trần Văn T đang uống rượu bia ở gần nhà phát hiện, tri hô, đuổi theo T. Nghe tiếng tri hô, ông Lâm Quốc V và ông Nguyễn Thanh T cùng đuổi theo nên T nhảy xuống ao đối diện địa chỉ 110/3 khu phố 6, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân để trốn và bị T cùng V bắt giữ, giao Công an xã Tân Kiên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển đối tượng cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh điều tra, xử lý.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Chánh số: 1199/KL-HĐĐGTS ngày 28/5/2021 xác định xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59Y2 – 509.31 trị giá 9.875.000 đồng.
Quá trình điều tra, Huỳnh Hoài T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59Y2 – 509.31, qua xác minh, xe mô tô trên do ông Trần Văn T đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả xe mô tô trên cho ông T.
- 01 (một) bộ quần áo thu giữ của Huỳnh Hoài T.
Về dân sự: Bị hại Trần Văn T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số: 191/CT-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Hoài T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 15, Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ghi nhận bị hại không có yêu cầu bồi thiệt hại và ghi nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Chánh đã trao trả chiếc xe 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59Y2 – 509.31cho bị hại; tịch thu và tiêu hủy 01 (một) bộ quần áo thu giữ của Huỳnh Hoài T.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Hoài T khai nhận hành vi như trên và còn khai nhận bản thân bị cáo nghiện ma túy, đã được gia đình đưa đi cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng bị cáo vẫn chưa cai nghiện được. Trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo bỏ nhà đi bụi hơn 10 ngày, do hết tiền tiêu xài nên bị cáo mới đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, Bị cáo xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo trình bày quan điểm bào chữa: Trong vụ án này bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hoặc gây thiệt hại không lớn, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 65, Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Bản thân bị cáo đang nghiện ma túy, kính mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét thấy tại phiên tòa, người bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Hoài T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa và có gửi trước bản bào chữa cho Tòa án. Bị cáo Huỳnh Hoài T và người đại diện hợp pháp của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người bào chữa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Hoài T theo quy định tại khoản 2 Điều 291 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét thấy, lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Huỳnh Hoài T đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59Y2 – 509.31 của ông Trần Văn T vào ngày 23/5/2021 tại địa chỉ B12/7 ấp 2, xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trên, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị 9.875.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Huỳnh Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản” (thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt), tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo còn nhỏ nhưng ham chơi đua đòi, nghiện ma túy, đã được gia đình đưa đi cai nghiện tự nguyện nhưng sau đó bị cáo vẫn tiếp tục tái nghiện. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một khoản thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật chưa chín chắn nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng Điều 91; khoản 1 Điều 101, Điều 102 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59Y2 – 509.31, qua xác minh, xe mô tô trên do ông Trần Văn T đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả xe mô tô trên cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- 01 (một) bộ quần áo thu giữ của Huỳnh Hoài T, hiện không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn T không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo cũng như giải quyết phần dân sự và vật chứng.
Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, luật sư bào chữa chỉ định cho bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất, dưới khung của hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo vì không tương xứng với tính chất mức độ phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và không đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục bị cáo.
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 15; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 102 khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 2 Điều 291, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hoài T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bộ quần áo thu giữ của Huỳnh Hoài T (vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/11/2021 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh)
Ghi nhận việc bị hại Trần Văn T không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Luật sư bào chữa chỉ định cho bị cáo, bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TPHCM (1); - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM (1); - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh (2); - Công an huyện Bình Chánh (1); - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an TPHCM (1); - Sở tư pháp TPHCM (1); - Bị cáo (1); - Luật sư (1); - Bị hại; Đương sự (2); - Lưu hs (1); - Lưu VT (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lý Thường Đông |