vanban.org

Bản án 176/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 25/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân T phạmtội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP. HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2020/HS-ST
Ngày 25-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG -THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Phương Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Trang

Bà Vương Thúy Thìn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài – Cán bộ Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 186/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2019 đối với:

Bị cáo Lê Xuân T; sinh ngày 29/7/2002; Hộ khẩu thường trú: Số X đường Y, phường Trường Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; Nơi ở: không xác định; nghề ngH: không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Xuân Đ và bà Bùi Thị H; Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú ngày 13/4/2020; tạm giữ ngày 14/4/2020; tạm giam ngày 17/4/2020. Danh chỉ bản số 212 lập ngày 14/4/2020 tại Công an quận Hai Bà Trưng. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên toà.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Lê Xuân Đ; sinh năm 1960; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: số X, đường Y, phường Trường Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; là bố của bị cáo; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hoàng Hưởng – Văn phòng Luật sư Vĩnh Xuân, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Đức L; sinh năm 1995; hộ khẩu thường trú: thôn A, xã B, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức Q; sinh năm 1964; Hộ khẩu thường trú: thôn A, xã B, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/10/2019, Vũ Huy C đến nhà nghỉ Lưu Nguyệt tại số 68 Lô 5 Đền Lừ 2 phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội để gặp Vũ Hoàng H. Tại đây còn có thêm Lê Xuân T, sinh ngày 29/7/2002, hộ khẩu thường trú: 66H2 Giếng Mứt, phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội và Triệu Phương A, sinh ngày 30/4/2002; hộ khẩu thường trú: số 16 ngách 292/37 Kim Giang, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. C rủ H và T đi trộm cắp xe máy với mình thì H và T đồng ý đi theo. H điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng, không biển kiểm soát, số khung RLHJA3907HY665402; số máy JA39E0643075 của C đi tới để chở C và T đi vòng quanh nhằm tìm kiếm tài sản để sơ hở không ai trông giữ. Khoảng 0 giờ 30 phút sáng ngày 17/10/2019, cả ba đi đến đầu ngách 1/37 Lê Thanh Nghị, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thì trông thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, sơn màu nâu, BKS 34B3-532.84, số khung C100M8072856, số máy C100ME8072856 của anh Nguyễn Đức L (sinh năm 1995; hộ khẩu thường trú: thôn A, xã B, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) đang dựng ở gần đó và không có ai trông giữ. Lúc này, C xuống kiểm tra khóa chiếc xe trên, còn H cùng T vào cửa hàng tiện dụng Circle K gần đó mua nước và quan sát tình hình. Nhận thấy không bị ai chú ý, H và T đi ra gần khu vực của C, H ngồi lên yên xe Honda Wave được dựng sát xe Honda Dream, còn T đứng cạnh H để cả hai cùng thực hiện nhiệm vụ cảnh giới cho C dùng vam phá khóa, trộm cắp chiếc xe máy của anh L. Thực hiện xong, H điều khiển chiếc xe máy Honda Dream vừa trộm cắp được, còn C và T đi chiếc xe máy Honda Wave rời khỏi hiện trường. Khi đi được một đoạn, H dừng xe, tháo gương xe máy Honda Dream rồi vứt tại bên đường (địa chỉ cụ thể H không nhớ rõ) và tháo biển kiểm soát 34B3-532.84 đưa cho T cầm. Sau đó cả ba tiếp tục đi tới bãi gửi xe trước Công ty TNHH VN Light, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội để gửi lại chiếc xe máy Honda Dream vừa trộm cắp được, rồi cùng nhau quay về nhà nghỉ Lưu Nguyệt để nghỉ. T đưa lại chiếc biển kiểm soát đã tháo ra cho H. Khi về đến nơi, Phương A mở cửa cho cả ba vào phòng. Phương A hỏi về chiếc biển kiểm soát xe máy H đang cầm trên tay thì H kể lại vừa đi trộm chiếc xe máy Dream gần siêu thị Circle K và đây là chiếc biển kiểm soát của xe máy đấy. Lúc này, C, H, T tiếp tục bàn bạc và thống nhất với nhau rằng nếu bán được xe thì sẽ cho T số tiền là 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng) và số tiền còn lại thì H và C sẽ chia đôi. Qua quen biết xã hội, H biết một người tên là Tuấn Anh (không rõ nhân thân lai lịch) đang có nhu cầu mua xe. Sau khi trao đổi, người này hẹn găp H đến khu vực hồ Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội để xem xe. Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 17/10/2019, cả ba người lấy xe máy Honda Dream đã gửi lúc trước để mang về tiếp tục cất giữ tại nhà nghỉ Lưu Nguyệt. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, H điều khiển xe máy Honda Dream, còn T và C đi xe máy Honda Wave của C sang điểm hẹn tại khu vực hồ Văn Chương để tìm người mua xe thì H bị cơ quan công an kiểm tra. Thấy vậy, T và C quay đầu xe bỏ chạy, cơ quan công an tạm giữ chiếc xe máy Honda Dream và yêu cầu H về trụ sở để làm việc.

Tại cơ quan công an, Vũ Hoàng H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và tài liệu chứng cứ cơ quan công an đã thu thập. Đến ngày 08/11/2019, Vũ Huy C tới cơ quan công an đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản và giao nộp chiếc xe máy Honda Wave không biển kiểm soát là phương tiện các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy Honda Dream nêu trên.

Ngày 03/11/2019, Cơ quan điều tra đã có Quyết định trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự đối với: số khung C100M8072856, số máy C100ME8072856 của chiếc xe máy Honda Dream, sơn màu nâu và số khung RLHJA3907HY665402, số máy JA39E0643075 của chiếc xe máy Honda Wave không biển kiểm soát. Kết luận giám định cho thấy số khung, số máy của hai chiếc xe máy trên đều là số nguyên thủy, còn biển kiểm soát 34B3-532.84 không giám định do không có mẫu so sánh.

Ngày 18/10/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng có văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản quận Hai Bà Trưng tiến hành định giá tài sản đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 34B3-532.84, số máy 8072856, số khung 8072856. Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 140/KL-HĐ ĐGTS ngày 03/11/2019 đã kết luận: Giá trị tài sản cần định giá là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng chẵn).

Ngày 14/01/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định truy nã bị can đối với Lê Xuân T và Quyết định tách vụ án hình sự, tách hồ sơ tài liệu liên quan đến Lê Xuân T để tiếp tục xác minh, giải quyết theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra có Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự xảy ra ngày 17/10/2019 tại ngách 1/37 Lê Thanh Nghị, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và Quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với Lê Xuân T.

Ngày 05/3/2020, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã tiến hành xét xử vụ án trộm cắp tài sản đối với các bị cáo Vũ Huy C và Vũ Hoàng H. Tại Bản án số 41/2020/HSST ngày 05/3/2020, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã tuyên bố bị cáo Vũ Huy C và Vũ Hoàng H phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tuyên phạt bị cáo Vũ Huy C 24 tháng tù và bị cáo Vũ Hoàng H 12 tháng tù, bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Ngày 13/4/2020, Lê Xuân T tới cơ quan công an để đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 17/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự xảy ra ngày 17/10/2019 tại ngách 1/37 Lê Thanh Nghị, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Quyết định phục hồi điều tra bị can và Quyết định đình nã đối với Lê Xuân T. Tại cơ quan điều tra, T khai nhận hành vi phù hợp với nội dung nêu trên.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS 34B3-532.84, số khung 8072856, số máy 8072856: quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1964; hộ khẩu thường trú: thôn A, xã B, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ngày 14/01/2020, cơ quan điều tra đã có Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả chiếc xe trên cho anh Nguyễn Đức L - là con trai ông Nguyễn Đức Q và được ông Q ủy quyền nhận tài sản. Ông Q và anh L xác nhận đã nhận xe và không có yêu cầu gì.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave không biển kiểm soát, số khung RLHJA3907HY665402, số máy JA39E0643075: Tại Bản án số 41/2020/HSST ngày 05/3/2020 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xác định cơ quan điều tra đã có Quyết định tách vụ án hình sự liên quan đến chiếc xe máy trên để tiếp tục xác minh giải quyết theo quy định.

Đối với Triệu Phương A: Tại Bản án số 41/2020/HSST ngày 05/3/2020 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã xác định không có căn cứ xử lý đối với Triệu Phương A về hành vi không tố giác tội phạm.

Tại bản Cáo trạng số 173/CT-VKSHBT-HS ngày 28/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng đã truy tố Lê Xuân T về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân T giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Ông Lê Xuân Đ – là bố đẻ và là người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Xuân T trình bày: Sau khi phạm tội do lo sợ nên T bỏ trốn. Khi C và H bị xét xử, T có biết do vẫn về nhà, gia đình đã động viên T ra cơ quan công an đầu thú và đến ngày 13/4/2020, T mới tới cơ quan công an để đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo trình bày: đồng ý với nội dung Cáo trạng đã truy tố bị cáo Lê Xuân T về hành vi trộm cắp tài sản. Ngoài ra, người bào chữa còn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm không đáng kể, không có tình tiết tăng nặng có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, Điều 93 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo.

Bị hại là anh Nguyễn Đức L và người có quyền lợi là ông Nguyễn Đức Q: đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và xác nhận đã nhận lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, BKS 34B3-53284 và không có yêu cầu gì đối với bị cáo Lê Xuân T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Lê Xuân T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Lê Xuân T với mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù, không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết đinh tố tụng của cơ quan điều tra, Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân T, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của các bị cáo Lê Xuân T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; căn cứ Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản quận Hai Bà Trưng, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 17/10/2019, tại đầu ngách 1/37 Lê Thanh Nghị, phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Lê Xuân T đã có hành vi lén lút, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản đã chiếm đoạt tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream sơn màu nâu, BKS 34B3-532.84, số khung C100M8072856, số máy C100ME8072856 đã qua sử dụng của anh Nguyễn Đức L, trị giá tài sản là : 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Hiện bị hại đã nhận lại xe máy và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Hành vi trên của bị cáo Lê Xuân T đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nhân thân: Bị cáo Lê Xuân T không có tiền án, tiền sự, khi lấy trộm xe máy, bị cáo T là người cảnh giới xung quanh để giúp C, H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Như vậy, bị cáo Lê Xuân T có vai trò đồng phạm giúp sức. Sau khi bị phát hiện, bị cáo đã bỏ trốn, cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã bị cáo. Mặc dù biết mình bị truy nã, biết bị cáo C, H đã bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo đã bỏ trốn gần 6 tháng và đến ngày 13/4/2020 bị cáo mới ra đầu thú. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử thấy: tại thời điểm phạm tội, bị cáo mới được 17 tuổi 02 tháng 18 ngày, là chưa đủ tuổi thành niên, sau khi bỏ trốn, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật nên ngày 13/4/2020 bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà thấy bị cáo không có nghề ngH, thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản là chiếc xe máy và không có yêu cầu bồi thường về dân sự, nên toà án không xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2020.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo Lê Xuân T, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ