vanban.org

Bản án 176/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 07/07/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y Ban

Thường V Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án ph và lệ ph T a án. Không ch p nhận kháng cáo của chị Huỳnh Kim T.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y Ban
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 1 Bộ luật tố t ng d n sự; Điều 308 Bộ luật tố t ng d n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T NH N THÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2020/DS-PT
Ngày 07-7- 2020
V v tranh ch p h p đ ng vay tài
sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘN HÒA XÃ HỘI CHỦ N HĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH N THÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Đinh Ch T m

Các Thẩm phán: ng Trần Phước Hội

ng Sỹ Danh Đạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Hường - Thư ký T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp: ng Nguyễn Văn Tón- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 07 tháng 7 năm 2020 tại Tr s T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số: 113/2020/TLPT-DS ngày 12 tháng 02 năm 2020 về tranh ch p h p đ ng vay tài sản.

Do bản án d n sự sơ thẩm số: 2 2019 DS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2019 của Toà án nh n d n TPSĐ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 261 2020 QĐPT-DS ngày 12 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh TC, sinh năm 1972

Địa ch : Số nhà 1 , đường TB, khóm TA, phường AH, TPSĐ, t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện h p pháp : ng Nguyễn Văn T, sinh năm 195

Địa ch : Số 116, đường NTB, khóm TB, phường AH, TPSĐ, t nh Đ ng Tháp.

- Bị đơn: Chị Huỳnh Kim T, sinh năm 1970

Địa ch : Số nhà 6 A đường HBT, khóm 2, phường 3, TPSĐ, t nh Đ ng Tháp.

Người kháng cáo: Chị Huỳnh Kim T.

NỘI DUN VỤ ÁN:

- Nguyên đơn anh u nh TC v Ng i đ i di n h p pháp ng Nguy n Văn T trình b y:

Ngày 12 3 2019, anh C có cho chị T vay số tiền 1.000.000.000 đ ng (01 tỷ đ ng), lãi su t 3% tháng, thời hạn 20 ngày trả, m c đ ch vay để trả n ng n hàng. Anh C đã giao đủ số tiền 1.000.000.000 đ ng cho chị T nhận tại nhà anh C. Việc vay tiền chị T có ký biên nhận n . Biên nhận anh C có ghi tên v anh C là chị Trần Đàm Diễm P; thực tế chị P không tham gia, không ký tên trong biên nhận. Giao dịch vay tiền ch có anh C và chị T. Ngoài số tiền 1.000.000.000 đ ng vốn vay, trong biên nhận ngày 12 3 2019 c n ghi n tiền lãi lần vay trước số tiền 62.000.000 đ ng. Sau khi vay tiền chị T không đóng lãi cũng chưa trả vốn cho anh C.

Nay anh C yêu cầu chị T trả tiền vốn vay 1.000.000.000 đ ng, không yêu cầu t nh lãi. Đối với số tiền n lãi 62.000.000 đ ng ghi trong biên nhận anh C xóa bỏ không yêu cầu.

- Bị đơn chị u nh Kim T trình b y:

Chị T thừa nhận có vay số tiền 1.000.000.000 đ ng của anh C như anh C trình bày là đúng. Tuy nhiên, về thời gian giao tiền là vào cuối tháng 11 2018 chị T không nhớ ngày, việc giao tiền chia thành lần g m: lần đầu 300.000.000 đ ng; lần thứ hai giao 200.000.000 đ ng; lần thứ ba giao 200.000.000 đ ng; lần thứ tư giao 300.000.000 đ ng. Các lần giao tiền trên đều không có làm biên nhận.

Đến ngày 12 3 2019 mới làm biên nhận chung số tiền 1.000.000.000 đ ng. Về lãi vay là 12% tháng. Từ khi nhận tiền chị T có đóng lãi cho anh C mỗi tháng 120.000.000 đ ng, số tiền lãi đã đóng tổng cộng 580.000.000 đ ng. Việc đóng lãi chia ra mỗi tháng đóng 3 lần, mỗi lần 0.000.000 đ ng. Các lần đóng lãi không có làm biên nhận. Chị T không có chứng cứ về việc có đóng lãi số tiền 580.000.000 đ ng cho anh C. M c đ ch chị T vay tiền của anh C để cho Công ty Ng n Bảo N vay lại.

Về số tiền 62.000.000 đ ng n lãi ghi trong biên nhận thì sau đó chị T đã trả 42.000.000 đ ng, ch c n n 20.000.000 đ ng. Nay anh C bỏ không yêu cầu phần tiền lãi 62.000.000 đ ng này thì chị T cũng đ ng ý, không có ý kiến.

Nay chị T không đ ng ý trả 1.000.000.000 đ ng vốn vay theo yêu cầu của anh C. Chị T ch đ ng ý trả số tiền vốn 420.000.000 đ ng (cộng với số tiền lãi chị T đã đóng cho anh C 580.000.000 đ ng) là đã đủ số tiền vốn 1 tỷ đ ng của anh C cho chị T vay.

Việc chị T vay tiền của anh C không có chị Trần Đàm Diễm P (là v anh C) tham gia nên chị T không có tranh ch p, yêu cầu gì đối với chị Phương.

- Bản án dân sự sơ thẩm số:

D - T ng y tháng năm của To án nhân dân TP Đ:

Căn cứ các điều 63, 66 Bộ luật d n sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y Ban Thường V Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án ph và lệ ph T a án.

Tuyên xử:

Ch p nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn anh Huỳnh TC.

Buộc bị đơn chị Huỳnh Kim T trả cho anh Huỳnh TC số tiền vốn vay 1.000.000.000 đ ng (Một tỷ đ ng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật d n sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Kim T nộp 2.000.000 đ ng án ph d n sự sơ thẩm.

Anh Huỳnh TC đư c hoàn trả lại số tiền tạm ứng án ph đã nộp 21.750.000đ theo biên lai số 0009815 ngày 2 7 2019 của Chi c c Thi hành án d n sự TPSĐ.

Ngoài ra bản án c n tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm chị Huỳnh Kim T kháng cáo bản án sơ thẩm và yêu cầu giải quyết cho chị trả số tiền 20.000.000 đ ng trên tổng số tiền 1.000.000.000 đ ng và ch chịu án ph đối với số tiền 20.000.000 đ ng.

Tại phiên t a phúc thẩm có mặt ông T, chị T tham gia phiên t a. Chị T giữ yêu cầu kháng cáo và lý do chị đã trả cho anh C xong số tiền lãi 580.000.000 đ ng. Ngoài ra không cung c p thêm chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình.

ng T đại diện cho anh C trình bày: Anh C đ ng ý theo bản án sơ thẩm và không đ ng ý theo yêu cầu kháng cáo của chị T. Anh C, ông T cũng không có cung c p bổ sung chứng cứ gì thêm.

Tại phiên t a đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tu n theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc ch p hành pháp luật của những người tham gia tố t ng đúng theo quy định về quyền và nghĩa v đương sự. Về nội dung giải quyết v án T a án c p sơ thẩm ch p nhận yêu cầu của anh C là đủ căn cứ, ph h p với quy định pháp luật; kháng cáo của chị T không có cơ s ch p nhận nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ v án đã đư c kiểm tra tại phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên t a, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NH N NH CỦA TÒA ÁN:

1] Về thủ t c tố t ng: Các đương sự thống nh t không có khiếu nại gì đối với thành phần những người tham gia tố t ng trong v án.

[2] Về nội dung tranh chấp: T a án c p sơ thẩm qua thu thập chứng cứ xác định theo nội dung biên nhận ngày 12 3 2019 thể hiện và chị Huỳnh Kim T đều thừa nhận có vay số tiền 1.000.000.000 đ ng của anh Huỳnh TC theo biên nhận ngày 12 3 2019, đến nay chị T chưa trả tiền vốn cho anh C. Đ y là tình tiết không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của của Bộ luật tố t ng d n sự.

Chị T thừa nhận vay tiền của anh C và nhiều người khác m c đ ch là để cho vay lại hư ng tiền chênh lệch về lãi su t. Theo chị T trình bày cũng đã có nhận lãi khi cho công ty Ng n Bảo Ngọc vay tiền từ số tiền vay của anh C. Do đó, xét th y việc chị T có vay tiền 1.000.000.000 đ ng của anh C nên phải có nghĩa v trả n vay cho anh C là ph h p quy định của pháp luật.

Đối với việc chị T trình bày việc giao nhận tiền vay chia làm lần, thời gian vào cuối tháng 11 2018 cũng như chị T có đóng lãi cho anh C với lãi su t 12% tháng (mỗi tháng đóng 120.000.000 đ ng), tổng số tiền đã đóng lãi 580.000.000 đ ng. Tuy nhiên, chị T không cung c p đư c chứng cứ chứng minh về thời gian giao nhận tiền vay cũng như đóng lãi với lãi su t cao cho anh C; trong khi anh C xác định từ khi vay cho đến nay chị T không đóng lãi và cũng chưa trả vốn. Mặc khác, chị T cũng không có chứng cứ chứng minh đư c việc nhập chung số tiền vay từ tháng 11 2018 trong lần thành số tiền vay 1.000.000.000 đ ng theo biên nhận ngày 12 3 2019 như chị T trình bày. Do đó, không có cơ s xem xét để điều ch nh lãi.

Đối với số tiền lãi 62.000.000 đ ng ghi trong biên nhận, giữa anh C với chị T không có tranh ch p nên không xem xét giải quyết.

Anh C ch yêu cầu chị T trả vốn 1.000.000.000 đ ng không yêu cầu t nh lãi. Do đó không xem xét giải quyết về tiền lãi theo quy định của pháp luật.

[3] Từ những ph n t ch trên T a án c p sơ thẩm ch p nhận yêu cầu kh i kiện của anh C; buộc chị T trả cho anh C số tiền vốn vay 1.000.000.000 đ ng.

[4] Sau khi xét xử chị T kháng cáo không đ ng ý trả cho anh C số tiền 1.000.000.000 đ ng; ch đ ng ý trả số tiền 20.000.000 đ ng. Xét kháng cáo của chị T; đối với số tiền 1.000.000.000 đ ng anh C yêu cầu chị T trả đư c T a án c p sơ thẩm ch p nhận với lý do nhận định như trên là đúng quy định pháp luật. Đ ng thời tại phiên t a phúc thẩm chị T cũng xác nhận Biên nhận vay số tiền ngày 12 3 2019 là do chị ký tên; số tiền này chị vay nhiều lần cho Công ty Ng n Bảo N vay lại. Chị có đóng lãi nhiều lần số tiền 580.000.000 đ ng nhưng không có chứng cứ gì chứng minh. Việc chuyển tiền qua Ng n hàng vào tháng 01 năm 2019 là trả tiền mua hàng, không yêu cầu giải quyết. Từ sau tháng 03 năm 2019 chị T không c n vay tiền, trả tiền gì khác cho anh C. ng T đại diện cho anh C xác định: V n đề liên quan Công ty Ng n Bảo N thì anh C không biết; anh C không có nhận tiền trả vốn, lãi của chị T nên không đ ng ý với kháng cáo của chị T. Do chị T kháng cáo nhưng không cung c p chứng cứ gì chứng minh yêu cầu, trình bày của mình nên Hội đ ng xét xử phúc thẩm không ch p nhận kháng cáo của chị T.

[5] Do đó Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm; việc đề nghị là ph h p, đúng quy định pháp luật nên ch p nhận. Hội đ ng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần c n lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án ph d n sự: Do giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm nên chị T phải chịu án ph phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT NH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 1 8 Bộ luật tố t ng d n sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y Ban

Thường V Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án ph và lệ ph T a án.

Tuyên xử:

- Không ch p nhận kháng cáo của chị Huỳnh Kim T.

- Giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm.

1/ Ch p nhận yêu cầu kh i kiện của anh Huỳnh TC.

Buộc chị Huỳnh Kim T có trách nhiệm trả cho anh Huỳnh TC số tiền 1.000.000.000 đ ng (Một tỷ đ ng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật d n sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

2 Về án ph d n sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Kim T nộp 2.000.000 đ ng án ph d n sự sơ thẩm.

Anh Huỳnh TC đư c nhận lại số tiền tạm ứng án ph đã nộp 21.750.000 đ ng theo biên lai số 0009815 ngày 2 7 2019 của Chi c c Thi hành án d n sự TPSĐ.

3/ Về án ph d n sự phúc thẩm: Chị Huỳnh Kim T phải nộp 300.000 đ ng án ph d n sự phúc thẩm kh u trừ tiền tạm ứng án ph đã nộp theo biên lai số 0004170, ngày 30/10/2019 của Chi c c Thi hành án d n sự TPSĐ, t nh Đ ng Tháp. Chị T không phải nộp thêm.

Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự thì người đư c thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án d n sự, thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ