- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Dương Minh Đ - Võ Bích Y"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Bích Y. Sửa bản án sơ thẩm số 22/2019/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 176/2019/DS-PT Ngày: 03 - 7 - 2019 V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán:
Ông Chung Văn Kết
Ông Huỳnh Văn Yên
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Yến là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2019/TLPT-DS ngày 04 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2019/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2019/QĐPT-DS ngày 18 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Minh D, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C . (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Nghị Trung K, sinh năm 1964 (vắng mặt).
2. Bà Võ Bích Y, sinh năm 1970 (có mặt).
Cùng cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C ..
- Người kháng cáo: Bà Võ Bích Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Anh Dương Minh D trình bày:
Vào ngày 08/5/2018 anh có mua thức ăn tôm của Đại lý Việt Anh với số lượng 30 bao, khi vận chuyển thức ăn do cầu thấp, đò dọc không đi qua được nên đã đem các bao thức ăn chất lên cầu của ông K và bà Y xây dựng. Bà Y không cho nên hai bên xảy ra cự cãi, bà Y dùng dao chặt 05 bao thức ăn hiệu TONGWEI của anh làm thiệt hại đến tài sản của anh.Tại đơn khởi kiện anh D yêu cầu ông K và bà Y bồi thường thiệt hại cho anh với số tiền 3.925.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm anh D xác định chỉ có bà Y gây thiệt hại đến tài sản của anh, nên anh chỉ yêu cầu bà Y bồi thường cho anh số tiền 3.890.000 đồng theo biên bản định giá của Tòa án. Tuy nhiên, anh D thừa nhận anh có một phần lỗi trong sự việc trên nên anh D chỉ yêu cầu bà Y bồi thường cho anh số tiền 3.000.000 đồng.
* Bà Võ Bích Y trình bày:
Anh D thường xuyên chất thức ăn tôm lên cây cầu của gia đình bà, bà vẫn không có ý kiến gì. Đến ngày 08/5/2018 do anh D chất nhiều thức ăn tôm bà sợ cầu bị gãy nên nhắc nhở chủ đò dọc. Sau đó anh D chở thức ăn về nhà, hai bên cự cãi nhau, anh D bẽ gãy cổng rào của bà, ông K (chồng) và anh D cự cãi nhau nên bà dùng dao cầm sẵn trên tay từ nhà đi ra chặt đứt 05 bao thức ăn tôm của anh D. Bà Y thừa nhận bà là người gây thiệt hại đến tài sản của anh D chứ không phải ông K và bà chỉ đồng ý bồi thường ½ giá trị tài sản của anh D bị thiệt hại.
Tại bản án sơ thẩm số 22/2019/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi quyết định:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584 và khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Minh D. Buộc bà Võ Bích Y bồi thường cho anh Dương Minh D số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Đình chỉ một phần yêu cầu của anh Dương Minh D về việc yêu cầu ông Nghị Trung K bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí định giá, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19/4/2019 bà Võ Bích Y kháng cáo với nội dung bà thừa nhận bà có chặt đứt 05 bao thức ăn nuôi tôm nhưng 05 thức ăn này không bị hư hại, anh D đã sử dụng hết 05 bao thức ăn này để nuôi tôm và anh D là người có lỗi nên yêu cầu xét xử lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bà Võ Bích Y, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi theo hướng buộc bà Y bồi thường cho anh D số tiền 1.500.000 đồng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Anh Dương Minh D có để 30 bao thức ăn tôm hiệu TONGWEI trên cầu do ông K và bà Y xây dựng là thực tế có xảy ra. Tại phiên tòa phúc thẩm anh D thừa nhận việc bà Y chặt đứt các bao thức ăn nuôi tôm của anh là do anh có lỗi một phần.
Xét hành vi của bà Y làm hư hại 05 bao thức ăn nuôi tôm của anh D là do xuất phát từ việc anh D có lời lẽ không đúng với bà Y. Khi anh D để 30 bao thức ăn nuôi tôm lên cầu của bà Y xây dựng, không xin phép bà Y, bà Y không đồng ý, lẽ ra anh D phải nhanh chóng di dời đi và tránh gây gỗ cãi nhau với bà Y nhưng anh D lại có lời lẽ qua lại với bà Y dẫn đến việc bà Y bức xúc nên gây thiệt hại cho anh D.
Tại phiên tòa bà Y cũng thừa nhận có lỗi một phần là không kiềm chế được nóng giận nên đồng ý bồi thường cho anh D 1.500.000 đồng. Anh D cũng thừa nhận do anh không kiềm chế được bản thân nên có lời qua tiếng lại với bà Y nhưng do bà Y gây thiệt hại 05 bao thức ăn nuôi tôm của anh nên bà Y phải bồi thường. Xét cả hai bên anh D và bà Y đều có lỗi, tuy nhiên việc bà Y có lỗi là xuất phát từ hành vi của anh D để thức ăn nuôi tôm lên cầu không xin phép và cự cãi với bà Y, còn bà Y thì lại dùng dao chặt đứt các bao thức ăn nuôi tôm. Nếu anh D không cự cãi với bà Y thì không có việc bà Y gây thiệt hại cho anh D nên trình bày của bà Y là phù hợp.
Như phân tích trên và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà Y, đề nghị này có cơ sở nên được chấp nhận.
Về chi phí định giá tài sản: Do anh Dương Minh D yêu cầu buộc bà Võ Bích Y bồi thường 3.000.000 đồng, được chấp nhận 1.500.000 đồng. Chi phí định giá là 1.500.000 đồng nên anh D và bà Y mỗi người phải chịu ½ chi phí. Bà Y phải chịu 750.000 đồng, anh D phải chịu 750.000 đồng. Anh D đã dự nộp số tiền 2.000.000 đồng, đã đối chiếu và thanh toán xong. Bà Y có trách nhiệm nộp lại số tiền 750.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi để hoàn trả cho anh D.
Về án phí sơ thẩm: Bà Võ Bích Y, anh Dương Minh D phải chịu theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà Võ Bích Y không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét, phát sinh hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Bích Y. Sửa bản án sơ thẩm số 22/2019/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584 và khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;
1. Buộc bà Võ Bích Y bồi thường cho anh Dương Minh D số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Bác yêu cầu của anh Dương Minh D đòi bà Võ Bích Y bồi thường 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).
2. Đình chỉ yêu cầu của anh Dương Minh D về việc buộc ông Nghị Trung K phải bồi thường thiệt hại cùng với bà Võ Bích Y.
3. Chi phí định giá tài sản: Bà Võ Bích Y phải chịu 750.000 đồng. Anh Dương Minh D phải chịu 750.000 đồng. Bà Võ Bích Y có trách nhiệm nộp lại số tiền 750.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi để hoàn trả cho anh Dương Minh D.
Kể từ ngày anh Dương Minh D có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Võ Bích Y chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng bà Võ Bích Y còn phải chịu thêm khoản lãi chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật tố tụng dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Bích Y phải chịu 300.000 đồng. Anh Dương Minh D phải chịu 300.000 đồng, ngày 23 tháng 8 năm 2018 anh Dương Minh D đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại biên lai số 0010277 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được chuyển thu đối trừ.
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Bích Y không phải chịu, đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số số 0009293 ngày 19/4/2019 tại Chi cục Thi hành án huyện Đầm Dơi được nhận lại.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT, (TM:TANDTCM). Thành viên hội đồng xét xử Huỳnh Văn Yên Chung Văn Kết | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Hải Hà Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hải Hà |