- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Hiệp C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Hiệp C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 176/2018/HSST Ngày 12/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quang Mẫn;
2. Ông Đỗ Hữu Phan Hiệp C.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Tâm, cán bộ Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 151/2018/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Phan Hiệp C, sinh ngày 05 tháng 2 năm 1983 tại Bình Định; Dân tộc: Kinh; Số CMND: 211846456; Giới tính: Nam; Thường trú: Xã T, huyện M, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; con ông Phan Hiệp S (sinh năm 1940) và bà Huỳnh Thị H (sinh năm 1944); 01 tiền án: Ngày 07/8/2016 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 23/11/2016 bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 01 năm tù (theo Bản án số 416/2016/HSST ngày 23/11/2016; Tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 15/8/2018 (có mặt).
Người tham gia tố tụng khác:
1. Bị hại: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1956
Địa chỉ: Xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
2. Người làm chứng:
2.1. Bà Trần Thị Quỳnh T, sinh năm 1985
Địa chỉ: Đường H, Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
2.2. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1968
Địa chỉ: Đường T, Phường 4, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
2.3. Ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1999
Địa chỉ: Đường T, Phường 10, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 15/8/2018, Phan Hiệp C đến khu vực Phòng chăm sóc khách hàng tại tầng trệt khu H Bệnh viện Từ Dũ, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh thì thấy bà Nguyễn Thị P đang nằm ngủ, kế bên có một túi xách màu hồng-tím không ai trông coi nên Phan Hiệp C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Phan Hiệp C đến ngồi gần phía trên đầu của bà P dùng tay trái lấy trộm túi xách rồi để bên góc bàn bên phải của Phan Hiệp C rồi Phan Hiệp C lục túi xách lấy 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1190 và một bóp nữ bên trong có 1.000.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị P sau đó đi đến gốc cây phía sau khu D Bệnh viện Từ Dũ, Phan Hiệp C lấy 1.000.000 đồng rồi ném bỏ chiếc bóp cùng giấy tờ.
Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, chị Trần Thị Quỳnh T (cháu của bà P) ngồi trên ghế phát hiện túi xách của bà P dịch chuyển nên báo bà P, qua kiểm tra bà P phát hiện bị mất tài sản nên chị T cùng bà P đến phòng bảo vệ gặp anh Phạm Văn Bé và Nguyễn Phước Tuấn trình báo sự việc. Đến 16 giờ cùng ngày, anh B và anh T xem lại camera và phát hiện Phan Hiệp C ngồi trên ghế hành lang khu A tầng trệt, Phòng tài vụ Bệnh viện Từ Dũ nên bắt giữ Phan Hiệp C, lúc này anh B và anh T phát hiện túi quần bên phải phía sau của Phan Hiệp C có 01 bóp nam bên trong có 1.000.000 đồng, túi quần bên phải phía trước có 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1190 của bà P nên anh B và anh T giao Phan Hiệp C cùng vật chứng đến Công an Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 rồi chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 xử lý theo thẩm quyền.
Theo bản Kết luận định giá tài sản số 204/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 1, kết luận điện thoại di động hiệu Nokia 1190 có giá là 350.000 đồng.
Qua xác minh nhân thân của Phan Hiệp C có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã khởi tố và bắt giam đối với Phan Hiệp C.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Phan Hiệp C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của Phan Hiệp C phù hợp với tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã thu thập được.
Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự:
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1190 và 1.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị P đã thu hồi, trả lại cho bị hại;
- 01 bóp bên trong có 01 chứng minh nhân dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị P không thu hồi được, bà P không yêu cầu bồi thường.
Thu giữ của Phan Hiệp C: 01 áo màu trắng, 01 quần jean màu đen, 01 nón màu đen, 01 đồng hồ đeo tay màu đồng, 01 bóp nam, 01 đôi giày nam màu xanh; hiện do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 tạm giữ.
Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKS ngày 22 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Hiệp C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b, khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa kết luận bị cáo Phan Hiệp C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đề nghị Tòa án áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Hiệp C từ 12 đến 18 tháng tù. Đối với vật chứng của vụ án, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 15/8/2018 tại khu vực Phòng chăm sóc khách hàng tại tầng trệt khu H Bệnh viện Từ Dũ, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh, lợi dụng trong lúc bị hại là bà Nguyễn Thị P đang ngủ có sơ hở trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1190 và một bóp nữ bên trong có 1.000.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị P được đựng trong túi xách màu hồng-tím. Sau khi lấy chiếc điện thoại cùng 1.000.000 đồng trong bóp nữ, bị cáo đã vứt bỏ chiếc bóp cùng giấy tờ tùy thân của bị hại vào thùng rác không thu hồi được. Bị cáo bị bảo vệ bệnh viện là các anh Phạm Văn B và Nguyễn Phước T bắt giữ giao công an sau khi xem lại camera và đi tuần tra phát hiện căn cứ trình báo của bà P và chị T.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 204/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 1, kết luận điện thoại di động hiệu Nokia 1190 có giá là 350.000 đồng.
Do Phan Hiệp C đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở những khu vực công công, tâm lý lo lắng của bệnh nhân khi đi khám chữa bệnh tại bệnh viện. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vì động cơ tư lợi cá nhân nên vẫn cố tình thực hiện. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã có tiền án về tội xâm phạm sở hữu do đó cần có mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe đối với bản thân bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, pham tội nhưng chưa gây thiệt hại nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nh một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tài sản bị trộm cắp gồm 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1190 và 1.000.000 đồng đã giao trả bị hại. Riêng một bóp nữ bên trong có các giấy tờ tùy thân 01 chứng minh nhân dân và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Thị P không thu hồi được, bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét, giải quyết; Trả lại cho bị cáo 01 áo màu trắng, 01 quần jean màu đen, 01 nón màu đen, 01 đồng hồ đeo tay màu đồng, 01 bóp nam, 01 đôi giày nam màu xanh (Theo Phiếu nhập kho đồ vật tài liệu số 226/PNK-ĐVTL ngày 05/9/2018) do không liên quan đến hành vi phạm tội;
. Án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng bị cáo chịu.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Hiệp C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt Phan Hiệp C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2018.
- Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo 01 áo màu trắng, 01 quần jean màu đen, 01 nón màu đen, 01 đồng hồ đeo tay màu đồng, 01 bóp nam, 01 đôi giày nam màu xanh (Theo Phiếu nhập kho đồ vật tài liệu số 226/PNK-ĐVTL ngày 05/9/2018).
- Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Hiệp C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Áp dụng các Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - Công an TP.HCM (PC 53 - Đ3); - Tòa án nhân dân TP. HCM; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân Q.1; - Công an Q.1; - Chi cục Thi hành án dân sự Q.1; - Thi hành án hình sự Quận 1; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |