vanban.org

Bản án 176/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 28/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Thị Cẩm N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lưu Thị Cẩm N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. (được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 09/6/2017 đến ngày 18/6/2017) Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Thị Cẩm Nh - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Thị Cẩm N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2017/HSST
Ngày: 28/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tống Thị Điệp

Bà Vi Thị Kiều Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Minh Hiền, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Y Lương Bỹa, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột mở phiên toà để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 180/2017/HSST, ngày 10/8/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Thị Cẩm N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05 tháng 01 năm 1984; Tại: tỉnh Đồng Nai; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Lưu Văn Thương (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Hoa, sinh năm: 1956, hiện trú tại: Xã H, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Bị cáo có chồng chưa đăng ký kết hôn tên Y Jun Hùng, sinh năm 1981; bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2017 đến ngày 18/6/2017 được tại ngoại.

- Người làm chứng:

1/ Ông Y Sơn R - (vắng mặt)

Địa chỉ: Phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Ông Nông Văn K - (vắng mặt)

Địa chỉ: Phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo về hành vi phạm tội như sau:

Lưu Thị Cẩm N là người không có nghề nghiệp nên nảy sinh ý định mua hêrôin về để bán lại kiếm tiền lời tiêu xài. Thông qua một người bạn (chưa rõ nhân thân, lai lịch), N biết người nam giới tên C (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở tỉnh Đắk Nông có bán ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 05/6/2017, N gọi điện thoại cho C hỏi mua hêrôin với số tiền 8.000.000 đồng thì C đồng ý bán và hỏi địa chỉ hẹn tối cùng ngày sẽ đi đến bán ma túy cho N.

Khoảng 20 giờ ngày 05/6/2017, C đi đến trước nhà N tại số nhà 39/3 đường Y, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bán cho N một gói nylon chứa hêrôin với giá 8.000.000 đồng. Sau đó, N phân nhỏ số hêrôin mua được thành 45 gói hêrôin nhỏ được gói trong giấy bạc, số còn lại N bỏ trong đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu. N cất giấu số hêrôin trên trong túi nhỏ có khóa kéo, rồi bỏ trong túi xách màu đen với mục đích bán cho người nghiện giá tiền 200.000 đồng/gói. Đến khoảng 07 giờ ngày 09/6/2017, N cầm túi xách màu đen bên trong đựng hêrôin đi ra khỏi nhà, ý định gặp người nghiện sẽ bán. Tuy nhiên, khi N vừa ra đến trước số nhà 39/3 đường Y, phường T, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi xách của Lưu Thị Cẩm N 45 gói giấy bạc và 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu đều chứa chất rắn màu trắng, N khai nhận là hêrôin và đã được niêm phong theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số: 339/GĐMT-PC54, ngày 14/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: chất rắn màu trắng đựng trong 45 gói giấy bạc và 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu có tổng khối lượng: 4,4801 gam. Chất gửi giám định có ma túy, loại ma túy là hêrôin.

Tại bản cáo trạng số: 193/KSĐT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lưu Thị Cẩm N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên toà bị cáo Lưu Thị Cẩm N khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, không oan.

Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi bản chất của vụ án nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột vẫn giữ nguyên bản cáo trạng số: 193/KSĐT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2017 và đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Lưu Thị Cẩm N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự; Điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đề nghị xử phạt: Lưu Thị Cẩm N từ 03 năm đến 04 năm tù.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo Lưu Thị Cẩm N số tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.700.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 cân điện tử màu đen là tài sản của bị cáo Lưu Thị Cẩm N sử dụng vào việc phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu đen và 01 túi nhỏ có khóa kéo của bị cáo Lưu Thị Cẩm N và 4,4002 gam hêrôin còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 339/GĐMT-PC54 là tang vật của vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa bị cáo Lưu Thị Cẩm N thừa nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 07 giờ ngày 09/6/2017, tại trước số nhà 39/3 đường Y, phường Tân Lập, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Lưu Thị Cẩm N mang ma túy đi bán cho các con nghiện thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt quả tang, thu giữ của N 4,4801 gam Hêrôin.

Do đó, có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi của bị cáo Lưu Thị Cẩm N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và gây ảnh hưởng xấu cho xã hội về nhiều mặt, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân dẫn đến làm lan truyền các căn bệnh xã hội, trong đó có đại dịch HIV/AIDS. Bị cáo có đủ khả năng để nhận thức được Hêrôin (nằm trong Danh mục II, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ) là loại ma túy có sự gây nghiện cao thuộc sự quản lý độc quyền của nhà nước, việc mua bán không được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là vi phạm pháp luật. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi cố ý gây ra.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng do vậy chỉ xét xử tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”

Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy rằng: bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án sự, quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Như vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Lưu Thị Cẩm N số tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.700.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 cân điện tử màu đen là tài sản của bị cáo Lưu Thị Cẩm N sử dụng vào việc phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu đen và 01 túi nhỏ có khóa kéo của bị cáo Lưu Thị Cẩm N và 4,4002 gam hêrôin còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 339/GĐMT-PC54 là tang vật của vụ án.

Đối với nguồn hêrôin thu giữ trên, theo bị cáo khai là mua của đối tượng tên Châu (chưa rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của C. Vì vậy, Cơ quan điều tra tách hành vi của đối tượng này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Thị Cẩm N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự; Điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Lưu Thị Cẩm N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. (được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 09/6/2017 đến ngày 18/6/2017)

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Lưu Thị Cẩm N số tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.700.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 cân điện tử màu đen là tài sản của bị cáo Lưu Thị Cẩm N sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu đen và 01 túi nhỏ có khóa kéo của bị cáo Lưu Thị Cẩm N và 4,4002 gam hêrôin còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 339/GĐMT-PC54 là tang vật của vụ án.

(Có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột ngày 08/8/2017).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lưu Thị Cẩm N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ