| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN C TÆNH CAØ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Baûn aùn soá: 175/2018/DS-ST Ngaøy: 17 - 10 - 2018 “V/v tranh chấp nợ hụi và vay tài sản” |
NHÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN C, TÆNH CAØ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính
Các vị Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Họp
Bà Lữ Phúc Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau.
Trong ngaøy 17 thaùng 10 naêm 2018, taïi Toøa aùn nhaân daân huyeän Caùi Nöôùc xeùt xöû sô thaåm coâng khai vuï aùn thuï lyù soá: 120/2018/TLST-DS ngaøy 19 thaùng 6 naêm 2018 veà tranh chaáp “Nợ hụi và vay tài sản”, theo Quyeát ñònh ñöa vuï aùn ra xeùt xöû soá: 300/2018/QÑXXST-DS ngaøy 30 thaùng 8 naêm 2018 giöõa caùc ñöông söï:
- Nguyên đơn: 1. Ông Trịnh Văn G, sinh năm 1962 (Có mặt)
2. Bà Trần Minh T, sinh năm 1968 (Có mặt)
Cùng trú tại: ấp Nhà Thính B, xã Đông Thới, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Quách Thúy Ph, sinh năm 1974 (Vắng mặ t)
Địa chỉ: ấp T Hòa, xã T Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo ñôn khôûi kieän ngaøy 12/6/2018 vaø caùc lôøi trình bày taïi Toøa aùn ông Trịnh Văn G, bà Trần Minh T trình bày như sau:
+ Ông G, bà T có mở các dây hụi như sau:
Dây hụi thứ nhất:
Vào ngày 20/7/2015al tôi có mở 01 chưng hụi 1.000.000 đồng/tháng, hụi gồm 36 chưng, bà Ph tham gia 02 chưng, bà Ph đóng đến ngày 20/7/2016al được 07 lần thì hốt số tiền là 24.560.000 đồng. Sau khi hốt xong thì bà Ph đóng đến lần 32 thì không đóng nữa. Hiện nay hụi chưa mãn, chưng hụi này đến nay bà Ph còn nợ lại ông, bà 04 lần số tiền là 4.000.000 đồng.
Chưng thứ hai bà Ph đóng đến ngày 20/5/2016al hốt được và đóng còn lại 04 lần thì không đóng nữa, hiện nay bà Ph còn nợ lại số tiền là 4.000.000 đồng. Dây hụi này bà Ph còn nợ lại tôi số tiền là 8.000.000 đồng.
Dây hụi thứ hai: Vào ngày 16/02/2016al tôi có mở dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, bà Ph tham gia 01 chưng, bà Ph bỏ hốt đầu, khi hốt xong thì bà Ph đóng còn nợ lại 3.000.000 đồng thì không đóng nữa.
Dây hụi thứ ba: Ngày 16/01/2016al tôi có mở dây hụi 2.000.000 đồng, hụi gồm 35 chưng, bà Ph tham gia 01 chưng, đến ngày 16/3/2017al bà Ph hốt, sau khi hốt xong thì bà Ph đóng còn lại 09 lần thì bà Ph không đóng nữa. Nay tôi yêu cầu bà Ph trả lại 18.000.000 đồng.
Dây thứ tư: Vào ngày 16/02/2016al tôi có mở dây hụi 2.000.000 đồng, dây hụi 34 chưng, bà Ph tham gia 01 chưng, bà Ph đóng đến ngày 16/9/2016al hốt, sau khi hốt hụi thì bà Ph đóng còn nợ lại bà 9.000.000 đồng thì không đóng nữa.
Dây thứ 5: Vào ngày 10/01/2017al tôi có mở dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, dây hụi này 25 chưng, bà Ph tham gia 01 chưng, bà Ph đóng đến ngày 10/6/2017al hốt, sau khi hốt xong thì bà Ph đóng còn lại 11 lần là 33.000.000 đồng thì không đóng nữa. Dây hụi này bà Ph còn nợ lại số tiền là 33.000.000 đồng.
Dây hụi thứ sáu: Vào ngày 09/8/2017al tôi có mở hụi 500.000 đồng/tuần, dây gồm 80 chưng, bà Ph tham gia 06 chưng, bà Ph đóng được 01 lần thì hốt, sau khi hốt xong thì bà Ph đóng còn lại 50 lần số tiền là 25.000.000 đồng thì không đóng nữa. Tôi yêu cầu bà Ph trả lại số tiền là 25.000.000 đồng.
Ngày 07/9/2017al bà Ph đóng được 04 lần thì hốt lần 2, sau khi hốt xong thì bà Ph đóng còn lại 50 lần số tiền là 25.000.000 đồng thì không đóng nữa. Bà Ph còn nợ lại 25.000.000 đồng.
Ngày 06/10/2017al bà Ph đóng được 08 lần hốt, từ khi hốt xong bà Ph đóng được 21 lần số tiền là 10.500.000 đồng, còn nợ lại 55 lần số tiền là 27.500.000 đồng thì không đóng nữa đến nay. Dây hụi này còn lại 03 chưng sống bà Ph đóng được 29 lần x 03 chưng = 43.500.000 đồng.
Dây hụi thứ bảy: Vào ngày 12/02/2018al bà có mở dây hụi 100.000 đồng/ngày, hụi gồm 80 chưng, bà Ph tham gia 02 chưng, bà Ph đóng đến ngày 28/02/2018al 01 chưng thứ nhất, đến ngày 29/02/2018al tiếp tục hốt chưng thứ hai. Sau khi hốt xong còn lại 63 lần x 02 chưng = 124 lần tổng số tiền là 12.400.000 đồng, bà Ph đóng được 6.100.000 đồng, còn nợ lại 6.300.000 đồng thì không đóng nữa.
+ Ông G, bà T có cho bà Ph mượn tiền như sau:
Ngày 24/12/2017 bà Ph mượn số tiền là 2.560.000 đồng; ngày 16/01/2018 bà Ph mượn 3.000.000 đồng; ngày 26/01/2018 mượn 11.000.000 đồng và đến ngày 11/5/2018 mượn 500.000 đồng. Tổng số tiền bà Ph mượn là 17.060.000 đồng.
Tổng số tiền hụi và tiền mượn là 171.860.000 đồng – 03 chưng hụi 500.000 đồng/tuần x 03 chưng là 43.500.000 đồng = 128.360.000 đồng. Ông G, bà T yêu cầu bà Ph trả tổng số tiền hụi và tiền mượn là 128.360.000 đồng.
Đối với bà Ph, sau khi Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án, đã thông báo cho bà Ph biết về việc ông G, bà T yêu cầu bà Ph trả cho ông, bà số tiền 128.360.000 đồng, nhưng bà Ph không có ý kiến gì. Tòa án đã hai lần thông báo cho bà Ph tham gia hòa giải nhưng bà Ph không đến và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu của ông G, bà T. Do đó, Tòa án nhân dân huyện C không tiến hành hòa giải đối với bà Ph được. Tòa án tiến hành triệu tập bà Ph để xét xử hợp lệ đến lần thứ hai bà Ph cũng vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bà Ph theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Ph đã được Tòa án nhân dân huyện C triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không đến, theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Ph.
Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn ông Trịnh Văn G, bà Trần Minh T với bị đơn bà Quách Thúy Ph là “Tranh chấp nợ hụi và vay tài sản” được quy định tại Điều 463, 471 Bộ luật dân sự.
Xét nội dung tranh chấp: Các dây hụi do ông G, bà T làm đầu thảo đều có danh sách hụi, ngày khui hụi cũng như ngày hốt hụi, giấy giao hụi, đồng thời ông G, bà T có cung cấp các danh sách hụi gồm: Dây hụi thứ nhất ngày 20/7/2015al, mở 01 chưng hụi 1.000.000 đồng/tháng, hụi gồm 36 chưng, bà Ph tham gia 02 chưng, bà Ph đóng đến ngày 20/7/2016al được 07 lần thì hốt số tiền là 24.560.000 đồng. Sau khi hốt xong thì bà Ph đóng đến lần 32 thì không đóng nữa, chưng hụi này bà Ph còn nợ lại số tiền là 4.000.000 đồng; Chưng thứ hai bà Ph đóng đến ngày 20/5/2016al hốt được và đóng còn lại 04 lần thì không đóng nữa, hiện nay bà Ph còn nợ lại số tiền là 8.000.000 đồng; Dây hụi thứ hai: Vào ngày 16/02/2016al tôi có mở dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, bà Ph tham gia 01 chưng, bà Ph bỏ hốt đầu, khi hốt xong thì bà Ph đóng còn nợ lại 3.000.000 đồng; Dây hụi thứ ba: Ngày 16/01/2016al mở dây hụi 2.000.000 đồng, hụi gồm 35 chưng, bà Ph tham gia 01 chưng, đến ngày 16/3/2017al bà Ph hốt, sau khi hốt xong thì bà Ph đóng còn lại 09 lần thì bà Ph không đóng nữa, bà Ph còn nợ lại số tiền 18.000.000 đồng; Dây thứ tư: Vào ngày 16/02/2016al có mở dây hụi 2.000.000 đồng, dây hụi 34 chưng, bà Ph tham gia 01 chưng, bà Ph đóng đến ngày 16/9/2016al hốt, sau khi hốt hụi thì bà Ph đóng còn nợ lại bà 9.000.000 đồng; Dây thứ 5: Vào ngày 10/01/2017al có mở dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, dây hụi này 25 chưng, bà Ph tham gia 01 chưng, bà Ph đóng đến ngày 10/6/2017al hốt, sau khi hốt xong thì bà Ph đóng còn lại 11 lần là 33.000.000 đồng thì không đóng nữa, bà Ph còn nợ lại số tiền là 33.000.000 đồng; Dây hụi thứ sáu: Vào ngày 09/8/2017al có mở hụi 500.000 đồng/tuần, dây gồm 80 chưng, bà Ph tham gia 06 chưng, bà Ph đóng được 01 lần thì hốt, sau khi hốt xong thì bà Ph đóng còn lại 50 lần số tiền là 25.000.000 đồng thì không đóng nữa, bà Ph còn nợ lại số tiền là 25.000.000 đồng. Ngày 07/9/2017al bà Ph đóng được 04 lần thì hốt lần 2, sau khi hốt xong thì bà Ph đóng còn lại 50 lần số tiền là 25.000.000 đồng thì không đóng nữa. Bà Ph còn nợ lại 25.000.000 đồng. Ngày 06/10/2017al bà Ph đóng được 08 lần hốt, từ khi hốt xong bà Ph đóng được 21 lần số tiền là 10.500.000 đồng, còn nợ lại 55 lần số tiền là 27.500.000 đồng thì không đóng nữa đến nay. Dây hụi này còn lại 03 chưng sống bà Ph đóng được 29 lần x 03 chưng = 43.500.000 đồng; Dây hụi thứ bảy: Vào ngày 12/02/2018al có mở dây hụi 100.000 đồng/ngày, hụi gồm 80 chưng, bà Ph tham gia 02 chưng, bà Ph đóng đến ngày 28/02/2018al 01 chưng thứ nhất, đến ngày 29/02/2018al tiếp tục hốt chưng thứ hai. Sau khi hốt xong còn lại 63 lần x 02 chưng = 124 lần tổng số tiền là 12.400.000 đồng, bà Ph đóng được 6.100.000 đồng, còn nợ lại 6.300.000 đồng thì không đóng nữa. Tổng các dây hụi ngày và tháng bà Ph thiếu ông G, bà T là 111.300.000 đồng. Các khoản tiền hụi này đã có danh sách hụi, trong các danh sách hụi đều có chữ ký xác nhận của các hụi viên và chữ ký của bà Ph xác định bà Ph đã có hốt các chân hụi nên trên. Do đó, Hội đồng xét xử thấy việc yêu cầu của ông G, bà T buộc bà Ph phải trả số tiền 111.300.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Đối với ông G, bà T có cho bà Ph mượn tiền như sau: Ngày 24/12/2017 bà Ph mượn số tiền là 2.560.000 đồng; ngày 16/01/2018 bà Ph mượn 3.000.000 đồng; ngày 26/01/2018 mượn 11.000.000 đồng và đến ngày 11/5/2018 mượn 500.000 đồng. Tổng số tiền bà Ph mượn là 17.060.000 đồng. Nhưng do hiện nay ông G, bà T chưa tìm được biên nhận nợ nên ông G, bà T xin rút lại yêu cầu, khi nào tìm được chứng cứ sẽ khởi kiện lại bà Ph sau. Xét thấy việc xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông G, bà T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Quách Thúy Ph phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì caùc leõ treân;
QUYEÁT ÑÒNH:
Caên cöù caùc Ñieàu 26, 35, 39, 91, 147, 218, 227, 228, 244, 266, 271 vaø 273 cuûa Boä luaät toá tuïng daân söï; Caùc Ñieàu 463, 468, 471 Boä luaät daân söï; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyeân xöû:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Văn G, bà Trần Minh T như sau:
Buoäc bà Quách Thúy Ph trả cho ông Trịnh Văn G, bà Trần Minh T soá tieàn là 111.300.000 đồng (Một trăm mười một triệu, ba trăm ngàn đồng).
Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
Đình chỉ yêu cầu của ông Trịnh Văn G, bà Trần Minh T đối với bà Quách Mỹ Ph trả lại số tiền 17.060.000 đồng (Mười bảy triệu, không trăm sáu mươi ngàn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Quách Thúy Ph phải chịu số tiền l 5.565.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông G, bà T số tiền 3.209.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004528 ngày 19/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bà Ph được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Minh Tính |