- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn C phạm tội trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2026/HS-ST Ngày: 15/8/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Diễn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tiến Đức;
- Ông Nguyễn Văn Quyến.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 15/8/2026, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 155/2026/TLST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2026/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 8 năm 2026, đối với bị cáo:
Lê Văn C, (giới tính: nam), sinh ngày: 16/7/1983, tại tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ĐKHHTT: thôn C, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ở: khu B, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; con ông Lê Hồng P, (đã chết) và bà Đỗ Thị P; bị cáo có vợ là Trịnh Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011;
- Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo Lê Văn C bị giữ khẩn cấp và tạm giữ tạm giam từ ngày 25/3/2026, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty Cổ phần xây dựng và sản xuất KANSAI VINA; địa chỉ trụ sở chính: số 21 Louis VIII, Khu đô thị Louis City Hoàng Mai, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai (nay là phường Hoàng Mai), thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1996; địa chỉ: khu T, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trịnh Quang K, sinh năm: 1987; địa chỉ: số 1/104 V, phường V, Thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Triệu Trung Đ, sinh năm: 1999; địa chỉ: khu T, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Trần Cao A, sinh năm: 1999; địa chỉ: khu T, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Ông Bùi Văn H và anh Đoàn Văn X.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/01/2026, Công ty cổ phần xây dựng và sản xuất KANSAI VINA (sau đây ghi tắt là công ty KANSAI) ký Hợp đồng thi công số 01/KANSAI-KTM/2025/MEP ngày 17/01/2026 với Công ty TNHH vật tư và dịch vụ KTM (Công ty KTM) do anh Trịnh Quang K làm Giám đốc, để thi công lắp đặt phần điện, điện nhẹ thuộc dự án công nghiệp TITAN Quảng Ninh tại Lô CN-01, Khu công nghiệp Đông Mai, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh. Toàn bộ vật tư, trong đó có dây cáp điện nhãn hiệu CADIVI, do Công ty KANSAI ứng vốn và cấp phát theo thiết kế trong đó có phần dây cáp được cấp dài hơn thiết kế để dự phòng khi hỏng, phần cáp thừa sau khi đấu nối phải thu gom chuyển về kho Công ty KANSAI quản lý. Toàn bộ quá trình cấp phát vật tư và chất lượng thi công đều được đội giám sát của công ty KANSAI do anh Nguyễn Văn L làm tổ trưởng, tổ chức giám sát.
Vào đầu tháng 3/2026, do thiếu nhân công và có quen biết với Lê Văn C từ trước, anh K nhờ C đến làm giúp công việc đấu nối dây cáp điện cho hạng mục lắp đặt trạm biến áp, trả công 600.000 đồng/ngày. C kéo cáp đến từng trụ biến áp rồi đấu nối. Đấu nối xong, C thấy còn thừa nhiều đoạn cáp điện và đội giám sát công trình của công ty KANSAI ít người kiểm tra nên nảy sinh ý định cắt trộm các đoạn cáp thừa, bóc tách lấy lõi đồng mang bán.
Từ ngày 17/3/2026 đến ngày 22/3/2026, lợi dụng sơ hở trong quản lý vật tư của đội giám sát công ty KANSAI, trong quá trình đấu nối tại các trạm biến áp KIOSK RBF-4, RBF-5 và RBW, C nhiều lần dùng kìm cắt cắt các đoạn dây cáp thừa đã quấn băng dính, chưa đấu nối, tại những vị trí không lắp đặt camera, mỗi đoạn dài khoảng 30 - 35 cm, giấu vào ba lô mang ra khỏi công trường về nơi ở tại khu B, phường Đ. Tại đây C dùng dao dọc giấy bóc tách lớp vỏ nhựa, lấy lõi đồng cất trong phòng gom lại định đem bán.
Đến ngày 25/3/2026, C bị Công an phường Đ kiểm tra hành chính tại phòng trọ. Quá trình kiểm tra, Cơ quan điều tra thu giữ: 216 đoạn dây cáp vỏ nhựa màu đen in chữ CADIVI - CXV 150 - 0,6/1kV (trong đó 205 đoạn đã tách lõi đồng, 11 đoạn chưa tách), tổng chiều dài 79,76 mét; 116 đoạn dây cáp vỏ nhựa màu đen in chữ CADIVI - CXV 240 - 0,6/1kV (trong đó 109 đoạn đã tách lõi đồng, 07 đoạn chưa tách), tổng chiều dài 44,86 mét; 24 đoạn dây cáp vỏ nhựa màu vàng sọc xanh lá in chữ CADIVI - CV 240 - 0,6/1kV (trong đó 23 đoạn đã tách lõi đồng, 01 đoạn chưa tách), dài 8,74 mét; cùng 01 kìm cắt dây điện, 02 dao dọc giấy và 01 ba lô màu đen. Cùng ngày anh K và Đội giám sát xây dựng công ty KANSAI kiểm tra thấy thiếu nhiều dây cáp thừa nên trình báo Công an phường Đ về việc mất trộm tài sản.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02 ngày 26/3/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự phường Đ, tỉnh Quảng Ninh kết luận: 79,76 mét dây cáp điện loại CXV 150 - 0,6/1KV có giá 33.751.720 đồng; 44,86 mét dây cáp điện loại CXV 240 - 0,6/1KV có giá 31.490.105 đồng; 8,74 mét dây cáp điện loại CV 240 - 0,6/1KV có giá 6.216.710 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 71.458.535 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Cơ quan điều tra tiến hành cho bị cáo C xác định hiện trường, thực nghiệm điều tra, kết quả thể hiện các vị trí cắt cáp tại ba trạm biến áp KIOSK phù hợp với nội dung vụ án.
Về vật chứng, tài sản, đồ vật bị tạm giữ:
Đối với số cáp điện và lõi đồng đã thu giữ tại nhà C, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty KANSAI quản lý. Đối với 01 kìm cắt dây điện, 02 dao dọc giấy, 01 ba lô màu đen đã thu giữ được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh tiếp tục bảo quản theo quy định của pháp luật.
Về bồi thường dân sự: đại diện bị hại công ty KANSAI yêu cầu bị can Lê Văn C bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo C đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường đủ số tiền theo yêu cầu của Công ty KANSAI, Công ty KANSAI không có yêu cầu bồi thường hay yêu cầu gì khác.
Bản cáo trạng số 131/CT-VKSKV2, ngày 08/7/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) Khu vực 2 - Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn C khai nhận như sau: Do có quen biết anh K là giám đốc Công ty KTM nên vào đầu tháng 3/2026, anh K nhờ C đến làm giúp công việc đấu nối dây cáp điện cho hạng mục lắp đặt trạm biến áp dự án điện trong khu công nghiệp Đông Mai, anh K trả công cho C thời vụ theo ngày, công việc là C kéo cáp đến từng trụ biến áp rồi đấu nối. Quá trình thực hiện việc đấu nối C biết sẽ không sử dụng hết độ dài của dây cáp và sẽ dư thừa đoạn dây cáp, lợi dụng việc này mỗi lần đấu cáp C bí mật lén lút dùng kìm cắt lại một đoạn dây cáp cho vào balo của mình mục đích trộm cắp để đem bán. Từ ngày 17 đến ngày 22/3/2026 mỗi ngày chia làm nhiều lần C trộm cắp nhiều đoạn dây cáp tổng cộng khoảng 50kg mang về phòng trọ của mình cất giấu tương đương 79,76m dây cáp điện của Công ty KANSAI VINA. Tuy nhiên C chưa kịp tiêu thụ thì bị Công an kiểm tra thu giữ toàn bộ vật chứng.
Người đại diện của bị hại, ông Nguyễn Văn L có lời khai xác nhận: Công ty KANSAI có ký hợp đồng thi công với công ty KTM do ông K làm giám đốc thi công phần điện lắp đặt trạm biến áp trong dự án công nghiệp tại Khu công nghiệp Đông Mai, tỉnh Quảng Ninh, công ty KANSAI cung cấp vật tư cho anh K để thi công, cuối mỗi ngày các vật tư thừa sẽ phải bàn giao lại cho công ty KANSAI. Quá trình thi công phát hiện vật tư thừa là các đoạn dây cáp bị thất thoát nên công ty KANSAI thống nhất để anh K làm đơn báo cơ quan công an giải quyết. Đến ngày 25/3/2026, C bị Công an phường Đ kiểm tra hành chính tại phòng trọ của C, thu giữ: 216 đoạn dây cáp và một số vật chứng, công ty KANSAI đã nhận lại toàn bộ số dây cáp do C trộm cắp, ngoài ra do C đã bóc tách vỏ của dây cáp điện nên công ty yêu cầu bồi thường khắc phục là 10.000.000đồng, và C đã bồi thường xong, công ty KANSAI không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Trịnh Quang K, giám đốc công ty KTM có lời khai khẳng định có ký hợp đồng lắp đặt với công ty KANSAI, sau đó ông K thuê C làm việc thời vụ lắp đặt điện của trạm biến áp trong khu công nghiệp Đông Mai, hằng ngày có giao cho C vật tư là dây cáp điện để thi công, do không quán xuyến hết nên bị C trộm cắp cắt các đoạn dây cáp điện của công ty KANSAI, sau khi bị phát hiện bắt giữ, đã thu hồi toàn bộ số dây cáp C trộm cắp trả lại cho công ty KANSAI, việc bồi thường ông K đề nghị hoàn trả toàn bộ về cho công ty KANSAI.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác gồm anh Triệu Trung Đ và anh Trần Cao A có lời khai xác nhận hiện là thủ kho và giám sát thi công của công ty KANSAI, khi thi công trạm biến áp trong khu công nghiệp Đông Mai, đã bàn giao vật tư cho ông K là giám đốc công ty KTM, quá trình thi công do phải giám sát nhiều hạng mục không quản lý hết nên để cho Lê Văn C là người ông K thuê lắp đặt thiết bị điện đã trộm cắp các đoạn dây cáp của công ty.
Người chứng kiến gồm các ông Bùi Văn H và Đoàn Văn X đều có lời khai xác nhận khoảng 4 giờ ngày 24/3/2026 được Công an phường Đ mời chứng kiểm tra hành chính lưu trú tại địa bàn phường Đ, phát hiện phòng trọ của Lê Văn C có nhiều vỏ bọc dây điện, lõi dây đồng cáp điện có độ dài khá nhau, Lê Văn C khai nhận đã trộm cắp trong khi thi công trạm biến áp để bán nhưng chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện.
Tại Biên bản kiểm tra hành chính do Công an phường Đ tỉnh Quảng Ninh thực hiện vào hồi 04 giờ 30 phút ngày 25/3/2026, thể hiện: quá trình kiểm tra hành chính tại phòng trọ của Lê Văn C tại khu B2, phường Đ có nhiều vỏ nhựa, lõi đồng có độ dài khác nhau, tuy nhiên Lê Văn C không giải trình được nguồn gốc xuất xứ các vật tư bị cắt rời trong phòng trọ của mình, tổ công tác đã đưa C và toàn bộ vật chứng về trụ sở để làm việc.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND Khu vực 2 - Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng: đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2025, xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 25/3/2026; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 kìm cắt dây điện, 02 dao dọc giấy, 01 ba lô màu đen.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận tội danh và hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về tội danh và căn cứ kết tội: tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Đơn trình báo, Sơ đồ kèm theo bản ảnh thực nghiệm điều tra, Bản ảnh hiện trường, Bản kết luận định giá tài sản… đã có đầy đủ cơ sở để kết luận: Trong thời gian từ ngày 17/3/2026 đến ngày 22/3/2026, tại công trường dự án công nghiệp TITAN Quảng Ninh thuộc Lô CN-01, khu công nghiệp Đông Mai, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh, Lê Văn C đã nhiều lần lén lút trộm cắp 133,36 mét dây cáp điện các loại trị giá 71.458.535 đồng của Công ty cổ phần xây dựng và sản xuất KANSAI VINA để tách lấy lõi đồng nhằm bán kiếm lời, nhưng đến ngày 25/3/2026 thì bị Công an phát hiện, thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số 131/CT-VKSQY, ngày 08/7/2026 của VKSND Khu vực 2 - Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Lê Văn C là có căn cứ pháp luật.
Hành vi của Lê Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 173 BLHS.
Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo C là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức được hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, bị cáo có sự chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, do hám lời vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : bị cáo C không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, ngoài ra bị hại và người liên quan đều có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Như vậy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX xét thấy tài sản trộm cắp đã được thu hồi toàn bộ trả lại bị hại và với tính chất mức độ hành vi phạm tội, có thể quyết định hình phạt đối với bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ để vừa răn đe phòng ngừa chung vừa giáo dục đối với bị cáo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo C có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, HĐXX thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với số cáp điện và lõi đồng đã thu giữ tại phòng trọ của bị cáo C, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Công ty KANSAI, HĐXX không đề cập.
Đối với 01 kìm cắt dây điện, 02 dao dọc giấy, 01 ba lô màu đen đã thu giữ được cần tịch thu tiêu hủy.
Về bồi thường dân sự: Công ty KANSAI yêu cầu Lê Văn C bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo C đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường đủ số tiền theo yêu cầu của Công ty KANSAI. Công ty KANSAI không có yêu cầu bồi thường hay yêu cầu gì khác, HĐXX không đề cập.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: bị cáo Lê Văn C 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2026.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 kìm cắt dây điện, 02 dao dọc giấy, 01 ba lô màu đen, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đang quản lý theo quy định.
- Về án phí và quyền kháng cáo: áp dụng khoản 2 Điều 136, khoản 1,4 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, buộc bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; báo cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh ; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Phòng PV 06 CA QNinh; - VKSND KV 2 - Quảng Ninh; - Trại tạm giam CA tỉnh; - Bị cáo, bị hại, Người LQ; - Thi hành án dân sự, HS; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Diễn |